Thứ năm, 17 Tháng 1 2019 01:38

Đánh giá chất lượng hệ thống giáo dục quốc gia Pháp

Nước Pháp hiện tại đang là một cường quốc về kinh tế, về khoa học, công nghệ (nền kinh thế lớn thứ 6 trên thế giới, năng suất lao động đứng thứ 2 trong khối G7...), và một trong những yếu tố cơ bản cho phép Pháp duy trì vị thế đó chính là nguồn lực rất mạnh về khoa học kĩ thuật và giáo dục. Giáo dục phổ thông (GDPT) của Pháp có truyền thống lâu đời và có ảnh hưởng trên thế giới. Cũng như các tư tưởng dân chủ và xã hội Pháp, nhiều tư tưởng giáo dục Pháp đã, đang và tiếp tục là những tư tưởng nền tảng của giáo dục hiện đại. Mô hình giáo dục Pháp là một mô hình có nhiều nét độc đáo riêng biệt trên nhiều phương diện.

Từ những thập niên cuối thế kỉ XX cho đến nay, nền giáo dục Pháp một mặt liên tục được điều chỉnh, thay đổi nhằm đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi mới của một xã hội vận động nhanh chóng và giải quyết những vấn đề nảy sinh. Nhiều biện pháp, chính sách giáo dục mới được xây dựng bởi những chính phủ khác nhau với những xu hướng chính trị khác biệt nhưng luôn dựa trên sự đảm bảo những nguyên lí, giá trị, quan niệm nền tảng về vai trò, chức năng của giáo dục và vai trò của nhà nước phúc lợi đối với nền giáo dục - những nền tảng tư tưởng gắn kết xã hội Pháp. Những chính sách, biện pháp ấy đều thống nhất ở định hướng làm cho nền giáo dục công bằng hơn, hoà nhập tốt hơn và hiệu quả hơn. Báo cáo của Bộ Giáo dục Pháp gửi UNESCO năm 2004 về khuynh hướng biến đổi của giáo dục Pháp đưa ra một số nét chính của các chính sách mà theo chúng tôi vẫn có thể phù hợp cho giai đoạn hiện tại:

- Hiện đại hoá Chương trình GDPT cả về nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; tăng cường sử dụng ICT; chú trọng tích cực hoá quá trình học tập. Tạo điều kiện cho việc tăng cường các hoạt động liên môn, cho sự phối hợp các hoạt động giáo dục và các quá trình học tập khác nhau trong nhà trường, chú trọng giáo dục công dân, định hướng nghề nghiệp.

- Tăng cường sự phân quyền cho các địa phương, các cơ sở đào tạo nhằm tăng khả năng đổi mới, phát huy sáng kiến, sự chủ động, linh hoạt của các cơ sở trong điều kiện đặc thù của họ để đạt hiệu quả cao hơn nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất của chương trình giáo dục và thi cử quốc gia thống nhất, tìm biện pháp hiệu quả hơn để duy trì sự quản lí thống nhất của Nhà nước, đảm bảo sự nhất quán, công bằng giữa các cơ sở, tăng cường hỗ trợ cho những nơi khó khăn.

- Tăng cường đầu tư cho giáo dục để cung cấp giáo dục (miễn phí) cho tất cả mọi người: mở rộng giáo dục bắt buộc cả 2 chiều tuổi, cả ở mầm non và sau trung học; đáp ứng những nhu cầu, khả năng khác nhau, định hướng học suốt đời; đồng thời đảm bảo chất lượng giáo dục, đảm bảo hiệu quả và thành công, hội nhập xã hội tốt hơn cho tất cả. Những biện pháp tập trung hơn vào tính nền tảng của giáo dục cơ sở, tăng cường sức hấp dẫn của giáo dục nghề nghiệp trong GDPT, tạo ra nhiều loại hình đào tạo nghề ngắn hạn cả ở GDPT và sau đó, tăng khả năng liên thông, đặc biệt là các mô hình đào tạo liên kết với doanh nghiệp... Cũng theo hướng này có nhiều biện pháp tăng cường tính mở của nhà trường, hợp tác với những những đối tác mới trong xã hội.

- Tăng cường tính mở, tính hội nhập của nền giáo dục đối với châu Âu và thế giới, một mặt bởi nội dung và chương trình giáo dục – với sự chú trọng giáo dục mở về văn hoá, năng lực đa văn hoá, sự hiểu biết và tôn trọng những văn hoá khác nhau; mặt khác bởi sự hội nhập bằng các chương trình trao đổi học sinh (HS), liên kết đào tạo...

Có thể thấy rằng, chất lượng của hệ thống giáo dục Pháp được đánh giá thông qua các kỳ thi, bằng cấp bậc phổ thông do Nhà nước độc quyền. Pháp vẫn sử dụng hình thức thi tốt nghiệp kết hợp thêm đánh giá quá trình ở cuối GDPT cơ sở và cuối bậc cao trung.

6.1. Cấp bằng tốt nghiệp THCS

Bằng tốt nghiệp giáo dục cơ sở - DNB là bằng quốc gia chứng nhận kết thúc chương trình giáo dục cơ sở. Tuy nhiên, bằng này không phải là điều kiện bắt buộc để được nhận vào học cao trung.

DNB gồm 2 loại: DNB đại cương (90% thí sinh) và DNB nghề (khoảng 10% thí sinh).

Trước 2016, việc cấp bằng tốt nghiệp THCS dựa vào 2 điều kiện: Điểm tốt nghiệp và Chứng nhận đạt các năng lực SOCCOM của nhà trường và hạnh kiểm. Điểm tốt nghiệp được tính dựa vào điểm thi tốt nghiệp và điểm quá trình, với các kì thi và cách tính điểm như sau:

- Kì thi tốt nghiệp: Gồm 3 môn thi viết theo đề chung quốc gia: Toán, Tiếng Pháp, Sử - Địa - Giáo dục công dân tổ chức thi trong 2 ngày (năm 2014:26 và 27/6). Điểm mỗi môn thi được tính hệ số 2.

- Một kì thi vấn đáp Lịch sử nghệ thuật (lưu ý là không có môn học riêng trong chương trình mà lồng ghép), tổ chức tại trường, tính hệ số 2.

- Điểm kiểm tra thường xuyên tất cả các môn học trong năm lớp 9 (ngoại trừ Sử - Địa - Giáo dục công dân): hệ số 10 hoặc 11.

- Môn tự chọn nếu điểm trên trung bình sẽ được cộng thêm vào tổng điểm để tính trung bình.

Với chương trình mới 2016: Cách xét cấp bằng tốt nghiệp THCS có sự thay đổi theo hướng kì thi tốt nghiệp bao phủ phần lớn số môn học, dù vẫn duy trì kết hợp với đánh giá quá trình. Kì thi tốt nghiệp gồm 3 bài thi bắt buộc, mỗi bài 100 điểm:

. - Một bài thi viết Toán, Vật lí - Hoá học, Khoa học sự sống và Khoa học Trái Đất, Công nghệ;

- Một bài thi viết Tiếng Pháp, Lịch sử - Địa lí và giáo dục đạo đức và công dân;

- Một bài thi vấn đáp về một trong các dự án liên môn mà HS đã tiến hành trong 3 năm học hoặc về một lộ trình giáo dục (lộ trình tương lai, lộ trình công dân...).

Phần đánh giá việc làm chủ SOCCOM là đánh giá trong quá trình học. 5 lĩnh vực của SOCCOM được chia làm 8 cấu phần, mỗi cấu phần tối đa 50 điểm với thang điểm:

+ Chưa làm chủ/thụ đắc: 10 điểm.

+ Làm chủ chưa vững chắc: 25 điểm.

+ Làm chủ: 40 điểm.

+ Làm chủ rất tốt: 50 điểm.

Điểm tốt nghiệp = tổng điểm thi tốt nghiệp + điểm SOCCOM.

Để được cấp bằng HS phải đạt trên 350 điểm/tổng 700 điểm.

Có quy định riêng cho các trường hợp đặc biệt (song ngữ, quốc tế, người lớn…)

Năm 2013, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THCS khoảng 85%.

6.2. Cấp bằng tú tài

Để được cấp bằng tú tài (tú tài đại cương, tú tài công nghệ, tú tài nghề), học sinh phải đạt điểm tốt nghiệp trên trung bình (10/20 trở lên) đối với chương trình trung học phổ thông.

Cách tính điểm tốt nghiệp như sau: về nguyên tắc, tất cả các môn mà học sinh theo học ở lớp 11, 12 (theo ban), kể cả tự chọn đều được đánh giá tính vào điểm tốt nghiệp, với hệ số khác nhau (tuỳ thuộc ban, tuỳ thuộc việc chọn chuyên ngành). Đại đa số các môn được đánh giá dưới hình thức thi tốt nghiệp. Hình thức thi có thể là viết hoặc vấn đáp, thực hành, thuyết trình dự án hoặc phối hợp cả 2 tuỳ môn, có thi thực hành với một số môn (như vật lí). Các môn tự chọn không bắt buộc có thể thi, được tính điểm thưởng nếu đạt nhưng tiêu chí điểm nhất định (kiểu như thưởng điểm nghề ở Việt Nam). Một số môn sử dụng ngay điểm đánh giá thường xuyên.

Kì thi tốt nghiệp THPT là kì thi quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, cả nước thi cùng thời gian theo đề chung (ngoại trừ một số vùng hải ngoại, trường Pháp ở nước ngoài thời gian thi ấn định riêng theo vùng với đề thi riêng, nhưng vẫn là đề thi quốc gia). Những môn kết thúc ở lớp 11 được tổ chức thi ngay cuối lớp 11.

Ví dụ: HS theo học Ban Khoa học (ban S) lớp 12 năm 2013 - 2014 ở Pháp được đánh giá tốt nghiệp như sau:

Ở lớp 11, đánh giá 3 môn Dự án nhóm TPE, Tiếng Pháp, Sử - Địa:

- TPE là dự án theo nhóm 3 người ở lớp 11, điểm gồm 3 phần: Quá trình cá nhân thực hiện (8 điểm - do các GV hướng dẫn cho), sản phẩm cuối và điểm trình bày (do nhóm giám khảo cho). Nếu điểm trên 10/20 sẽ được tính với hệ số 2.

- Tiếng Pháp gồm 2 phần: Thi viết trong 4 giờ theo đề chung quốc gia (hệ số 2); thi nói (20 phút, hệ số 2).

- Sử - Địa: Thi viết theo đề quốc gia trong 4 giờ, hệ số 3.

Lớp 12, đánh giá các môn còn lại.

- Môn giáo dục thể chất và thể thao: Hệ số 2, đánh giá quá trình. Lấy điểm trung bình của 3 bài thi thực hành trong năm.

- Các môn khác: Có thể kết hợp thi viết, thi nói, thực hành, đánh giá quá trình... với lịch thi viết quốc gia như sau:

chart tin1KA

Các học sinh lựa chọn chuyên ngành sẽ có một phần riêng trong đề thi môn tương ứng. Riêng chuyên ngành Tin học và Khoa học số hoá được đánh giá bằng điểm trình bày và bảo vệ hồ sơ - dự án tại trường.

Nếu điểm tốt nghiệp trung bình trong khoảng từ 8 đến dưới 10, học sinh có thể chọn một hay vài môn để thi lại ngay sau hè, trong tháng 9, thường là dưới hình thức vấn đáp.

Năm 2014, tỉ lệ thành công trong kì thi tú tài đạt tới 87,9%, cao nhất từ trước tới nay (tăng hơn 1% so với 2013), trong đó riêng tú tài đại cương (tương đương Trung học phổ thông của Việt Nam) tỉ lệ đỗ lên đến 90,9%.

6.3. Tuyển sinh Đại học - Cao đẳng

Bằng tú tài đồng thời cũng được coi là bằng đầu tiên của đại học. Kì thi tú tài có thể coi đồng thời là kì thi tuyển sinh đại học chung. Có bằng tú tài, học sinh có thể đăng kí vào các trường đại học, cao đẳng hoặc các lớp dự bị thi vào trường lớn CPGE không qua thi. Một số ngành ví dụ kĩ thuật viên cao đẳng, lớp CPGE xét tuyển dựa trên hồ sơ (học bạ, thư tự giới thiệu và đăng kí...).

Trường hợp đặc biệt: Một số trường đào tạo kĩ sư, kiến trúc, kinh doanh, nghệ thuật có thể tổ chức xét tuyển dựa vào hồ sơ, dựa vào kết quả tú tài, phỏng vấn hay tổ chức thi tuyển riêng. Một số trường grandes ecoles như Bách khoa, Sư phạm... chỉ tuyển sinh các học sinh đã học xong 2 năm đại học hoặc các lớp CPGE 2 năm (tương đương 2 năm đầu đại học), kì thi tuyển rất khó.

Việc đăng kí vào đại học, cao đẳng được tổ chức thông qua cổng tuyển sinh điện tử Admission Post - Bac của Bộ Giáo dục. Ví dụ năm 2014, từ 20/1 đến 20/3 học sinh đăng kí trên mạng, lập hồ sơ điện tử, đăng kí nguyện vọng và sắp xếp thứ tự nguyện vọng. Học sinh được đăng kí tối đa 36 nguyện vọng. Với những trường có yêu cầu, HS phải in hồ sơ và gửi đến trường. 2/4 là hạn cuối hoàn chỉnh hồ sơ trên mạng và gửi hồ sơ đến các trường. Thông tin về việc trường đã nhận được hồ sơ hay chưa, hồ sơ đầy đủ hay còn thiếu được gửi qua thư điện tử và thông báo trong hồ sơ điện tử cá nhân. Học sinh có thể điều chỉnh thứ tự nguyện vọng cho tới 10/6 (trước ngày thi tú tài). Việc tuyển được thực hiện trong 3 giai đoạn: 23 - 27/6; 4 - 8/7; 14 - 19/7 (mốc tính 12h). Ở từng giai đoạn, một đề xuất của Bộ được đưa ra cho thí sinh dựa trên: thứ tự ưu tiên nguyện vọng của HS, bảng xếp hạng HS (với những trường có chọn lọc xét tuyển). Học sinh phải trả lời đề xuất này theo kiểu: chấp nhận chắc chắn, chấp nhận nhưng..., không chấp nhận nhưng...

Tóm lại, nước Pháp chú trọng một nền giáo dục vì từng cá nhân và cả xã hội, chống lại quan niệm quá thực dụng về giáo dục ở đó mục tiêu phục vụ thị trường và kinh tế là mục tiêu quan trọng nhất. Chính phủ Pháp xây dựng mục tiêu giáo dục theo hướng:

Thứ nhất, giáo dục luôn duy trì tư tưởng giáo dục khai phóng, đào tạo con người cá thể và con người xã hội có tư duy tự do, tự chủ, độc lập và phản biện; chia sẻ những giá trị nhân văn dựa trên cơ sở hiểu biết, văn hoá...

Thứ hai, nền giáo dục Pháp luôn kế thừa, duy trì những điểm mạnh; chuẩn bị, biện luận, chuẩn bị cho sự đồng thuận trong dư luận xã hội nói chung, trong ngành nói riêng với những thay đổi, đảm bảo tính khả thi, tránh những xáo trộn, đảo thái cực khó kiểm soát.

Thứ ba, cần có sự tham gia rộng rãi của nhiều lực lượng khác nhau trong và ngoài ngành Giáo dục trong các tranh luận, thâm vấn, chuẩn bị cho các cải cách, đổi mới giáo dục.

Do lịch sử, về văn hoá và giáo dục, Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Pháp, nền giáo dục hiện đại của ta có thể nói đã hình thành với những ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của giáo dục Pháp đầu thế kỉ XX. Hơn 50 năm đã qua, những dấu ấn của Pháp vẫn còn khá mạnh. Giai đoạn lịch sử tiếp đó, với ảnh hưởng Liên Xô và Trung Quốc lại củng cố thêm một số ảnh hưởng, đặc biệt là tư duy quản lí tập trung nền giáo dục. Quy mô dân số, quy mô nền giáo dục về số lượng HS, GV của Pháp cũng khá tương đồng với Việt Nam: 12 296 400 HS phổ thông (6 796 300 Tiểu học, 3 335 100 THCS, 2165 000 bậc cao trung - 671 200 trung học nghề) và 839 700 GV, 64 000 trường học. Có thể thấy được nhiều bài học từ nền giáo dục Pháp, từ cách thức điều chỉnh nền giáo dục ấy cho quá trình đổi mới giáo dục Việt Nam hiện tại và trong tương lai, ít nhất là tương lai gần. Những mô tả, phân tích chi tiết về phương thức, về xu hướng của họ trong từng vấn đề cụ thể ở những phần trước chủ yếu được tiến hành theo quan điểm này nhằm đáp ứng về chất lượng của hệ thống giáo dục Việt Nam trên cơ sở xem xét thêm kinh nghiệm của Pháp trong chọn lựa, cấu trúc nội dung, kế hoạch dạy học, thiết kế chương trình chung và chương trình môn học theo tiếp cận năng lực, trong quan hệ với việc xác định nội dung học vấn/văn hoá cốt lõi cũng như trong cách thức tăng cường hoạt động liên môn, tích hợp mà vẫn đảm bảo chất lượng dạy học các bộ môn. Một trong những điểm đáng lưu ý là cần điều chỉnh tư duy chọn lựa nội dung tuyến tính, chủ yếu dựa vào logic "khoa học" của bộ môn, làm chương trình trở nên khá hàn lâm và nặng tải trong những đợt cải cách gần đây của chúng ta.

Đã xem 27 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành