Thứ tư, 23 Tháng 1 2019 01:34

Chính sách ưu đãi thuế của các nước trên thế giới - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Tại nhiều nước, báo cáo chi tiêu chính phủ chưa phản ánh hết quy mô của chính phủ do chi tiêu được thể hiện dưới hình thức ưu đãi thuế được thiết kế để hỗ trợ cho một số hoạt động đặc biệt như đầu tư, tiết kiệm, sở hữu nhà ở và từ thiện. Những chi tiêu thuế này gây ra một số vấn đề nghiêm trọng. Đầu tiên, đây là một kiểu chi không minh bạch, không được ưu tiên cùng với chi tiêu trực tiếp như một phần của hoạt động ngân sách. Điều này có nghĩa chi tiêu thuế có thể là một nguồn chi không hiệu quả. Hai là, chi tiêu thuế thu nhập được cấu trúc như một sự miễn giảm từ thu nhập chịu thuế, nó có lợi cho người giàu hơn là cho người nghèo do nó có ý nghĩa hơn với những người phải đối mặt với thuế suất cận biên cao thực tế là chúng trợ cấp cho tầng lớp khá giả, nhưng chi phí thuế lại được gánh vác bởi người nộp thuế nói chung do tổng thuế suất phải cao hơn để bù lại một cơ sở tính thuế nhỏ hơn.

Thật không may, cấp ưu đãi thuế lại khá dễ dàng do có thể được triển khai dưới dạng cắt giảm thuế, một động thái dễ biện giải về mặt chính trị hơn so với đề nghị tăng chi tiêu. Giống như vậy, vấn đề này rất khó để loại bỏ do việc loại bỏ nó có thể được nhìn nhận như một sự tăng thuế hơn là cắt giảm chi tiêu. Một số chi tiêu thuế theo thời gian có xu hướng được vốn hóa vào giá tài sản và do đó, việc cắt giảm các chi tiêu này không dễ dàng vì sẽ làm giảm giá các tài sản hiện tại. Đây là một vấn đề đặc biệt nhạy cảm với miễn giảm thuế cho vay mượn có thể chấp, điều này có thể góp phần vào nhu cầu điều chỉnh tài khóa hiện tại ở các nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng cũng rất khó khăn trong bối cảnh giá nhà rớt thảm hại do nó có thể làm giá bất động sản giảm sâu hơn nữa.

Điều này không có nghĩa tất cả các ưu đãi thuế là tiêu cực, nhưng có lẽ nên theo đuổi các khoản chi có mục tiêu hơn, vì cả hai lý do hiệu quả và công bằng thông qua chi tiêu trực tiếp hay tín dụng thuế đồng đều. Việc giảm trừ thuế cho các khoản từ thiện thường nhận được sự ủng hộ rộng rãi, nhưng không có lý do gì để coi trọng khoản từ thiện từ người giàu hơn khoản từ thiện từ những người kém khá giả hơn; thực ra, nhiều người có thể nghĩ điều ngược lại thì đúng hơn. Ít nhất, giảm trừ thuế có thể được đổi thành tín dụng thuế đồng đều nhằm loại bỏ sự phân phối thiên vị này. Một chi tiêu thuế gây tranh cãi là miễn trừ hoặc đánh thuế 0% cho các loại lương thực cơ bản và các nhu yếu phẩm khác dưới hình thức thuế VAT. Một điều đáng quan tâm khác về việc chuyển thuế thu nhập cá nhân thành thuế VAT là nó liên quan đến việc chuyển một loại thuế lũy tiến thành một loại thuế lũy thoái.

Thuế VAT được cho là một loại thuế lũy thoái vì khoản tiền người nghèo phải chi trả cho những hàng hóa bị đánh thuế chiếm tỷ trọng lớn hơn trong thu nhập của họ nếu so với người giàu, ít nhất là ở những nước tiên tiến. Tuy nhiên, việc miễn trừ hay đánh thuế 0% vào các mặt hàng cơ bản hoặc nhu yếu phẩm khác được tiêu dùng chủ yếu bởi người nghèo có thể chuyển VAT thành thuế lũy tiến. Điều đó có nghĩa, khoản tiền thu nhập chuyển sang cho người nghèo, có thể là thông qua thuế thu nhập, sẽ được nhắm tới tốt hơn. Hơn nữa, từ quan điểm công bằng, điều quan trọng là tính lũy tiến của toàn bộ hệ thống thuế, và thuế VAT lũy thoái sẽ không gây ảnh hưởng nếu thuế thu nhập cá nhân có thể phổ biến tính lũy tiến đầy đủ đến toàn bộ hệ thống thuế. Tại các nước đang phát triển, thuế VAT có thể có mục tiêu tái phân phối rõ ràng. Không những thuế VAT thường được miễn trừ dứt khoát ở các mặt hàng nhu yếu phẩm cơ bản như sản phẩm nông nghiệp thô - thứ chiếm phần lớn chi tiêu của các hộ nghèo, mà người dân cũng mua bán các mặt hàng này từ những nhà buôn nhỏ lẻ được miễn trừ thuế VAT hoặc tại các chợ phi chính thức. Do chính phủ các nước đang phát triển thường thiếu thuế thu nhập cơ sở rộng hiệu dụng và phương tiện để thực hiện chuyển giao dựa trên thu nhập, hỗ trợ người nghèo thông qua thuế VAT có thể là lựa chọn khả thi duy nhất.

Một lĩnh vực chi tiêu thuế được quốc tế quan tâm đáng kể là việc sử dụng quá mức ưu đãi đầu tư tại một môi trường cạnh tranh thuế cho đầu tư, khiến cho thuế doanh nghiệp theo luật định nhìn chung bị giảm như đã bàn ở trên. Ưu đãi thuế thu nhập đôi khi được đề nghị áp dụng cho nhiều ngành và lĩnh vực, nhưng thường những ưu đãi này nhắm vào các khoản đầu tư dựa trên cơ sở quy mô, lĩnh vực, địa điểm, định hướng xuất khẩu và các yếu tố tương tự, thường để thu hút các ngành chế tạo sử dụng nhiều lao động tại các nền kinh tế dồi dào nguồn lao động. Một loạt các ưu đãi có thể kể đến là giảm thuế, khẩu trừ đầu tư hoặc chiết khẩu tín thuế và trợ cấp khấu hao nhanh. Những ưu đãi này thường dư thừa và được cấu trúc kém, tạo ra thiên vị tuy không cố ý trong các lựa chọn đầu tư và thường giữa các loại hình kinh doanh.

Ví dụ, một trường hợp thường thấy đó là các nhà đầu tư mới, không kể trong hay ngoài nước, chỉ có thể tiếp cận hạn chế các giá trị thuế của một số biện pháp ưu đãi do họ phải kết chuyển các khoản khấu trừ không sử dụng hoặc khoản lỗ trong khi chờ đợi công việc kinh doanh của mình phát triển và sinh lời. Hơn nữa, những khoản kết chuyển này thực sự cũng có thể bị quá hạn do hạn chế thời gian đổi với kết chuyển lỗ. Ngược lại, các doanh nghiệp đang tồn tại với lợi nhuận chịu thuế hiện có có khả năng tận dụng được đầy đủ giá trị thuế ưu đãi bằng cách xóa tên chúng khỏi những thu nhập hiện phải chịu thuế từ các lĩnh vực kinh doanh khác. Ưu đãi đầu tư thường cũng dư thừa khi biện pháp khấu trừ đầu tư hoặc tín dụng thuế không nhận ra rằng thuế doanh nghiệp chỉ nhắm vào lợi nhuận của cổ đông, những người có thể chỉ góp một phần vốn vào khoản đầu tư mới, những ưu đãi có thể cũng được áp dụng đối với phần cấp vốn bởi các chủ nợ, khi đó thuế suất doanh nghiệp sẽ trở thành số âm. Bên cạnh sự tổn thất về hiệu dụng này, một phần lớn ưu đãi đầu tư đặc biệt đổ dồn về các nhà đầu tư dưới biển - những người có thể sẽ đầu tư kể cả khi không được ưu đãi thuế, do vậy làm cho việc ưu đãi trở nên dư thừa và không đạt hiệu quả chi phí. Hợp lý hóa chi tiêu thuế đầu tư là một lĩnh vực cải cách chủ chốt tại nhiều nước.

Tóm lại, theo quy luật chung, ưu đãi thuế nên có khả năng được giảm thiểu và việc giới thiệu các chi tiêu mới cần được kiểm soát chặt chẽ. Trong quá trình thực hiện, nếu tổng chi có thể được giảm bởi các khoản chi tiêu thuế tốn kém được thay bằng các khoản khác hiệu quả hơn hoặc chi trực tiếp, nó có thể tạo ra cơ sở tính thuế rộng hơn và thuế suất thấp hơn, từ đó cung cấp thêm phạm vi để tăng thu nếu phát sinh nhu cầu. Đối với các chi tiêu thuế còn lại, cần phải nhấn mạnh đến việc tăng tính minh bạch thông qua báo cáo chi tiêu rành mạch và có thể tích hợp những chi tiêu này trong quyết định ngân sách.

Đã xem 3 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành