Thứ sáu, 25 Tháng 1 2019 10:07

Về khái niệm kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

            Kinh tế nhà nước trong những năm qua ở nước ta có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của kinh tế. Tuy vậy, để phát huy hơn nữa vai trò của mình trong nền kinh tế hiện nay, kinh tế nhà nước cần tiếp tục đổi mới, tăng cường vai trò chủ đạo và cùng thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển.

Khái niệm kinh tế nhà nước ở Việt Nam được sử dụng chính thức và xuyên suốt kể từ Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII cho đến nay (trước đó, khái niệm khu vực “kinh tế quốc doanh” thường được sử dụng trong các Văn kiện Đại hội Đảng, nhưng đã được đổi thành khái niệm “kinh tế nhà nước” tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng).

Kinh tế nhà nước ở Việt Nam thường được hiểu là khu vực kinh tế bao gồm các doanh nghiệp nhànước và các yếu tố thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện, như đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, của cải, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà nước, lực lượng dự trữ, kể cả một phần vốn của Nhà nước đưa vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Như vậy, hệ thống kinh tế nhà nước gồm hai bộ phận cấu thành đó là doanh nghiệp nhà nước và các tài sản khác (đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, của cải, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà nước, các quỹ quốc gia). Có thể thấy, khái niệm khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam rộng hơn nhiều và có tính bao trùm đối với khái niệm doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước và tổ chức công lập; Vốn và ngân sách nhà nước; Quỹ dự trữ quốc gia; Lượng dự trữ ngoại tệ nhà nước; Đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, của cải, v.v. thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện, quản lý; Tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội khác của Nhà nước Việt Nam.

Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được định nghĩa tổ chức kinh tế theo đó Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.

Cơ cấu của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bao gồm các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt động do trung ương quản lý và địa phương quản lý; Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước thuộc sự quản lý của trung ương và địa phương; Công ty cổ phần vốn trong nước mà Nhà nước chiếm giữ trên 50% vốn điều lệ.

Một trong những điểm đáng lưu ý nhất ở đây đó là khái niệm doanh nghiệp nhà nước đã có sự thay đổi rất lớn theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 (được ban hành vào ngày 26-11-2014 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01-7-2015). Theo đó, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Theo định nghĩa mới này thì không chỉ bản chất mà cả cơ cấu nội hàm của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam cũng có nhiều thay đổi lớn kể từ năm 2015 đến nay.

Quan điểm về cải cách doanh nghiệp nhà nước được bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 và tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện Đảng, trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta. Việc cải cách doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhằm sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình doanh nghiệp này. Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam thường được tiến hành dưới hai dạng chủ yếu đó là tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước nhưng không làm thay đổi sở hữu của doanh nghiệp và đổi mới các doanh nghiệp nhà nước theo các hình thức chuyển đổi sở hữu của doanh nghiệp.

Việc tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước mà không làm thay đổi sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các hình thức tổ chức như sáp nhập vào công ty nhà nước khác; hợp nhất các công ty nhà nước; chia công ty nhà nước; tách công ty nhà nước; chuyển công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên; chuyển tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập thành tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập; khoán, cho thuê công ty nhà nước. Ngoài ra, còn phải kể đến hình thức giải thể doanh nghiệp nhà nước và phá sản doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước có thể thông qua các hình thức chuyển đổi sở hữu phần vốn góp của nhà nước trong doanh nghiệp cụ thể là thông qua hoạt động cổ phần hóa công ty nhà nước, bán toàn bộ doanh nghiệp, bán một phần doanh nghiệp, giao doanh nghiệp cho người lao động để doanh nghiệp tái cơ cấu dưới hình thức hợp tác xã hoặc công ty cổ phần.

Trong các hình thức chuyển đổi sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước thì việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được thực hiện nhiều hơn cả. Cổ phần hóa ở Việt Nam được hiểu là việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Mục tiêu chính của cổ phần hóa ở Việt Nam nhằm mục tiêu huy động vốn của toàn xã hội, tạo điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và trở thành chủ thực sự có khả năng tham gia vào hoạt động của công ty, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp, tăng tài sản nhà nước, nâng cao thu nhập cho người lao động, phát triển kinh tế đất nước. Khác hình thức tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước ở nhiều nước trên thế giới, cổ phần hóa ở Việt Nam nhằm giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp. Cổ phần hóa doanh nghệp nhà nước có thể được thực hiện dưới hình thức phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có thể thực hiện theo hình thức bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hóa hay bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần.

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là trọng tâm cơ bản để tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam. Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đặc biệt là tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu như cơ cấu hợp lý lại doanh nghiệp nhà nước sao cho doanh nghiệp nhà nước tập trung hoạt động trong các lĩnh vực cốt lõi, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng an ninh; xây dựng các doanh nghiệp nhà nước nòng cốt để nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, thực hiện tốt vai trò định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước còn góp phần nâng cao sức cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đối với doanh nghiệp kinh doanh; hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh đối với doanh nghiệp hoạt động công ích.

Việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua cho thấy sự vươn lên như tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)…. Tuy nhiên việc tái cơ cấu doanh nghiệp, cụ thể là vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vẫn còn thực hiện chưa được đồng đều và nhanh chóng, nhiều tập đoàn và tổng công ty hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài. Do đó, trong thời gian tới nhằm tiếp tục tái cơ cấu nền kinh tế thì vấn đề cải cách, tái cơ cấu đối với doanh nghiệp nhà nước cần tiếp tục thực hiện một cách sát sao và kịp thời.

Đã xem 135 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành