Thứ ba, 29 Tháng 4 2014 00:00

Kinh nghiệm nước ngoài về phá sản doanh nghiệp

1. Về mục đích, quan điểm sửa đổi Luật phá sản năm 2004:

Thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường được luật điều chỉnh và thông qua tòa án. Mục đích của việc tiến hành thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp thường hướng đến những vấn đề sau:

- Duy trì, phục hồi doanh nghiệp khi có đủ điều kiện.

- Nếu không có đủ điều kiện phục hồi doanh nghiệp thì hướng đến đáp ứng chung yêu cầu của các chủ nợ của một doanh nghiệp mắc nợ - doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bằng việc bán tài sản của doanh nghiệp mắc nợ và phân chia số tiền thu được; doanh nghiệp mắc nợ trung thực có được cơ hội giải phóng khỏi các trách nhiệm còn lại của mình.

Theo tinh thần đó, pháp luật phá sản ở các nước thường điều chỉnh hai thủ tục chính với những tên gọi khác nhau là thủ tục phục hồi và thủ tục thanh lý. Tùy theo tình hình cụ thể của doanh nghiệp, thủ tục phục hồi hay thủ tục thanh lý được áp dụng.

Luật phá sản Việt Nam năm 2004 nhìn chung đã được xây dựng dựa trên cơ sở mục tiêu, quan điểm này. Đây cũng là mục tiêu, quan điểm nền tảng cho việc sửa đổi, bổ sung Luật phá sản năm 2004

2. Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng Luật phá sản:

Luật phá sản ở nhiều nước trên thế giới điều chỉnh không chỉ phá sản doanh nghiệp mà còn cả phá sản cá nhân, phá sản tiêu dùng.

Điều 2 của Luật phá sản năm 2004 của Nhà nước ta quy định Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy của pháp luật. Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu. Quy định này cho thấy, Luật phá sản 2004 không điều chỉnh phá sản cá nhân.

Về vấn đề này, Luật phá sản trong lần sửa đổi này nên tiếp tục giao dho Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu vì các doanh nghiệp này hoạt động không nhằm mục đích chính là lợi nhuận.

Về các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, do có đặc thù riêng nên Luật phá sản chỉ nên quy định những vấn đề chung về phá sản, còn các nội dung đặc thù về phá sản đối với các doanh nghiệp này nên quy định trong các luật chuyên ngành như Luật các tổ chức tín dụng, Luật bảo hiểm tiền gửi, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

       Ngoài ra, Luật phá sản trong lần sửa đổi này cũng chưa nền mở rộng đối tượng áp dung là cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình vì việc quản lý thu nhập cá nhân ở nước ta còn nhiều hạn chế; các đối tượng này có quy mô sản xuất nhỏ và nhìn chung chưa thực hiện sổ sách kế toán. Hơn nữa, việc mở rộng đối tượng áp dụng là cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình sẽ tạo thêm tình trạng quá tải cho hệ thống tòa án nước ta hiện nay.

3. Về thời hạn không thanh toán được nợ đến hạn để được coi là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản:

Trên thế giới hiện có ba tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đó là tiêu chí “định lượng”, tiêu chí “kế toán” và tiêu chí “định tính mất khả năng thanh toán”.

Điều 3 của Luật phá sản năm 2004 của Nhà nước ta quy định “Doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Quy định trên của Luật phá sản năm 2004 là dựa trên tiêu chí “định tính mất khả năng thanh toán” đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, để tạo thuận lợi cho việc áp dụng, Luật phá sản cần được sửa đổi theo hướng doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán được nợ đến hạn trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thực hiện yêu cầu đó thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản. Việc quy định như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã có điều kiện thanh toán nợ. Việc quy định mức tiền phải trả là không cần thiết.

4. Về chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

Theo pháp luật phá sản ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường, các chủ thể có quyền yêu cầu tòa án mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp thường là các chủ nợ của doanh nghiệp mắc nợ - doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và doanh nghiệp mắc nợ. Các chủ nợ có đảm bảo một phần và các chủ nợ khác có đảm bảo để có quyền yêu cầu tòa án xem xét, quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp.

5. Về chế tài đối với người đại diện doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản:

Theo pháp luật pá ở các nước phát triển trên thế giới như Đức, Pháp,… đại diện cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tòa án xem xét, quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp. Đồng thời, pháp luật phá sản còn quy định chế tài rất nặng như phạt tù, phạt tiền, bồi thường… đối với người đại diện cho doanh nghiệp không nộp đơn kịp thời hoặc nộp đơn không đúng.

6. Về yêu cầu bổ sung quy định về các chính sách, biện pháp xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp:

Pháp luật phá sản hiện hành chủ yếu quy định về tố tụng như thủ tục, trình tự thụ lý, giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản… trong khi phần pháp luật nội dung còn ít. Tức là chưa có những quy định cụ thể giải quyết tình trạng khó khăn về tài chính của doanh nghiệp; các hình thức giúp doanh nghiệp mắc nợ thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán như pháp luật về xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán ở nhiều nước trên thế giới hiện nay.

7. Về bổ sung quy định về quản tài viên:

Pháp luật về phá sản ở các nước phát triển như Nga, Pháp, Nhật Bản, Đức không quy định giao nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cho thẩm phán hay chấp hành viên mà giao cho người quản lý phá sản hay còn gọi là quản tài viên. Người này được tòa án bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của doanh nghiệp hay chủ nợ.

Trong khi đó, Luật phá sản Việt Nam năm 2004 lại quy định trao quyền quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản do một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm tổ trưởng. Việc trao quyền quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cho thẩm phán hay chấp hành viên có những hạn chế, bất cập do những người này không phải là chuyên gia về quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã. Hơn nữa, thẩm phán, chấp hành viên hoạt động kiêm nhiệm. Điều này ít nhiều làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản.

Để khắc phục tình trạng này, Luật phá sản cần quy định giao cho tòa án thẩm quyền chỉ định một người có chuyên môn sâu về lĩnh vực này làm nhiệm vụ giám sát, kiểm tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, đồng thời quy định rõ những nội dung giám sát, kiểm tra của những người này. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương hội nhập quốc tế của Nhà nước.

Đã xem 552 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành