Thứ hai, 25 Tháng 3 2019 16:44

KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, GẮN VỚI XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

Thuật ngữ “trí thức” được sử dụng rộng rãi trên thế giới, có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Intelligentia nghĩa là sự thông minh, sự hiểu biết, sự thông thái, trí tuệ... Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức, song những định nghĩa này đều dựa vào các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, trí thức là những người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo;

Thứ hai, sản phẩm lao động của trí thức là tri thức khoa học mới;

Thứ ba, trí thức là người có trình độ học vấn, chuyên môn cao;

Thứ tư, trí thức tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Như vậy, có thể khái quát trí thức những người lao động trí óc; có trình độ học vấn cao (nói chung có trình độ từ cử nhân trở lên) về lĩnh vực chuyên môn nhất định; có tư duy độc lập, năng lực sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có ích cho xã hội.

Các nước có nền giáo dục hiện đại đã thúc đẩy trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển nhanh tạo ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu như Mỹ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức. Bên cạnh đó, nền giáo dục của Hàn Quốc, Singapore có nhiều đổi mới nên những nước này cũng là những nước có nền công nghiệp phát triển do Chính phủ đã có những chính sách phát triển đột phá và vươn lên mạnh mẽ, trở thành những nước có tiềm lực kinh và to lớn. Trung Quốc cũng đã thay đổi và cải cách giáo dục đặc biệt là cải cách chương trình giáo dục phổ thông phù hợp với các đặc điểm về kinh tế xã hội nên cũng thu được những thành tựu nhất định trong xây dựng đội ngũ tri thức gắn với giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ góp phầm thúc đẩy kinh tế. Hiện nay Trung Quốc là nước đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và có triển vọng trở thành cường quốc kinh tế của thế giới. Đây là kinh nghiệm Việt Nam có thể nghiên cứu học hỏi bởi Trung Quốc có nhiều đặc điểm kinh tế xã hội tương đồng với Việt Nam.

Mặc dù các nước đều coi trọng việc phát triển đội ngũ trí thức, nhưng nhiều nước (trừ Trung Quốc) không đưa ra các chiến lược, chính sách riêng trong xây dựng đội ngũ trí thức. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ, có thể thấy tất cả các chính sách phát triển từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ đều tập trung tạo dựng môi trường tự do tư duy, tự do sáng tạo, khuyến khích và thu hút trí thức tài năng trong nước và nước ngoài, và đương nhiên đội ngũ trí thức tài năng sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước. Vì vậy, các tác giả sẽ tập trung lựa chọn, phân tích những chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tác động tới phát triển quy mô và chất lượng đội ngũ trí thức (chủ yếu là đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ) của từng nước.

Từ sự mô tả trên đây có thể rút ra một số kinh nghiệm phát triển giáo dục và đào tạo có thể gắn với việc xây dựng đội ngũ tri thức, trong đó có chú trọng đến phát triển khoa học công nghệ như sau:

1. Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc phát triển đội ngũ trí thức

Vai trò quyết định của Nhà nước trong việc phát triển đội ngũ trí thức thể hiện ở chỗ Nhà nước cầm trịch quá trình phát triển, xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách và huy động nguồn lực phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ.

Kinh nghiệm các nước Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc cho thấy Chính phủ các nước này, với bộ máy hành chính đủ năng lực đã tạo được những bước đi mang tính đột phá của quốc gia trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Thông qua tầm nhìn và quyết tâm của người lãnh đạo, các nước này đã có các chính sách tạo ra môi trường hoàn hảo cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; thiết lập môi trường lý tưởng để mọi trí thức trong tất cả các lĩnh vực lao động sáng tạo phát triển tài năng, có cơ hội cống hiến tài năng của mình cho xã hội. Nhà nước có vai trò to lớn, quyết định đến phát triển giáo dục và đào tạo, đảm bảo chất lượng và tính bền vững của nền giáo dục.

Với tầm nhìn sáng suốt, có chiến lược phát triển thích hợp, thực thi các biện pháp mạnh mẽ, các chính phủ Hàn Quốc và Singapore đã có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn và tập trung nguồn lực để phát triển khoa học - công nghệ, phát triển đội ngũ trí thức ở các ngành mũi nhọn, giúp cho các ngành này phát triển với tốc độ nhanh, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Kết quả là các nước này đã rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước đi từ tình trạng kinh tế lạc hậu lên trình độ phát triển hiện đại trong một giai đoạn ngắn.

Trong kinh tế tri thức, nguồn nhân lực trình độ cao ngày càng có ý nghĩa quan trọng quyết định tới sự phát triển đất nước. Nhà nước cần hoạch định việc phát triển đội ngũ trí thức phù hợp yêu cầu kinh tế - xã hội, có các chính sách và biện pháp để thực thi thành công chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức trong từng giai đoạn cụ thể.

2. Bồi dưỡng, thu hút nhân tài là một chiến lược hết sức quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngày nay, nhiều nước có chính sách bồi dưỡng, đào tạo nhân tài. Singapore đã có chương trình đào tạo nhân tài nhằm tăng cường việc phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo học sinh năng khiếu thành nhân tài cho đất nước. Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản không những phát hiện và sử dụng nhân tài trong nước, mà còn có chính sách nhằm thu hút các trí thức tài năng từ các nước khác phục vụ cho các chương trình giáo dục, khoa học và công nghệ trong nước (thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, qua ký kết thực hiện hiệp định khoa học và công nghệ, qua thuê chuyên gia thực hiện các nhiệm giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ).

Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần có bước đi và các phương thức đào tạo nhân tài riêng của mình, nhằm phát hiện học sinh, sinh viên có năng khiếu, tìm được nhiều học sinh năng khiếu - mầm mống của tài năng, đào tạo thành công những tài năng trẻ này. Việt Nam cần có chương trình quy mô lớn để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, chương trình này phải được thực hiện ở tất cả các cấp từ phổ thông tới đại học và sau đại học. Có phương thức đào tạo chất lượng cao để sớm có được nhiều thế hệ trí thức tài năng của Việt Nam. Có chế độ sử dụng hiệu quả trí thức nói chung và nhân tài nói riêng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bài học kinh nghiệm của các nước Đông Á cho thấy, để tạo ra được các bước phát triển nhảy vọt cần coi trọng ý kiến của các nhà khoa học lớn, có cơ chế tham vấn các trí thức có uy tín trong quá trình xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược, quyết sách của quốc gia.

Như vậy, cần nhanh chóng xây dựng và triển khai một Đề án quy mô về phát triển nhân tài Việt Nam. Mục tiêu chính của đề án này là góp phần quan trọng để biến Việt Nam trở thành quốc gia có nguồn nhân lực trình độ cao đủ năng lực cạnh tranh quốc tế.

3. Cần thiết lập môi trường khoa học thuận lợi cho việc phát hiện, đào tạo, phát triển và trọng dụng nhân tài, tạo thuận lợi cho tự do tư duy, tự do học thuật, tự do sáng tạo của trí thức

Hệ thống đào tạo của các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc, Singapore đều đảm bảo phát huy tự do học thuật, tự do sáng tạo trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học và công nghệ. Trong môi trường khoa học có cơ chế cạnh tranh, nó sẽ tạo động lực phát triển khoa học: cạnh tranh lành mạnh giữa các chuyên gia, giữa các tổ chức nghiên cứu, cạnh tranh trong nước và quốc tế. Môi trường khoa học này còn bao gồm cả các chính sách nhằm tạo điều kiện cho việc phát hiện, đào tạo, phát triển và trọng dụng trí thức nói chung và nhân tài nói riêng. Nhà nước tạo điều kiện về cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị thí nghiệm có trình độ công nghệ cao... cải thiện điều kiện làm việc của các nhà khoa học, có chính sách khuyến khích về tiền lương, chế độ đãi ngộ,... Môi trường khoa học yêu cầu cao đối với các nhà khoa học, các nhà khoa học không chỉ đóng góp cho xã hội thông qua các hoạt động khoa học và công nghệ mà còn phải truyền tải các kiến thức khoa học mới được phát hiện cho các thế hệ trí thức mới và giúp các doanh nghiệp sớm chuyển các tri thức khoa học thành các sản phẩm công nghệ cụ thể. Thị trường khoa học và công nghệ ở các nước cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên một môi trường năng động và có sức sống.

4. Phát triển đội ngũ trí thức ở khu vực kinh tế tư nhân cũng như ở các khu vực kinh tế khác là một vấn đề cần quan tâm như một giải pháp chiến lược lâu dài

Trong thế giới hiện đại, mọi nền kinh tế đều phải dựa vào nhiều thành phần. Mỗi khu vực kinh tế ứng với từng thành phần cần có lực lượng lao động trí thức trình độ cao của mình. Các lực lượng trí thức này sẽ có những sản phẩm trí tuệ có giá trị, đóng góp cho sự phát triển khoa học và công nghệ chung của đất nước.

Các nước Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc đều chú ý tới phát triển khoa học và công nghệ ở khu vực kinh tế tư nhân. Nhà nước có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, các công ty, các tập đoàn công nghiệp xây dựng những cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ trên cơ sở liên kết với các cơ quan nghiên cứu công lập và các trường đại học. Gắn hoạt động khoa học và công nghệ với việc giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở này.

Ở Việt Nam, đội ngũ trí thức ở khu vực kinh tế tư nhân còn mỏng và yếu, mặc dù tỷ lệ đóng góp cho tổng sản phẩm quốc dân từ khu vực này ngày càng tăng. Nhà nước cần sớm ban hành các chính sách nhằm khuyến khích nghiên cứu khoa học và công nghệ ở khu vực này như đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học ở các công ty, các tập đoàn công nghiệp. Nhà nước cũng cần hỗ trợ cho việc đào tạo nhân lực trình độ cao thuộc khu vực này. Cần có một cách nhìn nhận và đối xử công bằng hơn đối với sự đóng góp của trí thức trong các khu vực kinh tế khác nhau.

5. Bảo đảm tính đồng bộ của việc phát triển đội ngũ trí thức ở các ngành khoa học và công nghệ ưu tiên

Sự lựa chọn các ngành khoa học mũi nhọn phải cân đối giữa tiềm năng nghiên cứu và khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Khi đầu tư cho phát triển một ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn nào đó, cần lưu ý tới tính đồng bộ của việc phát triển đội ngũ trí thức thuộc ngành khoa học này: cần có chiến lược xây dựng đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, từ các nhà khoa học đầu đàn có trình độ quốc tế tới các thế hệ trí thức kế cận. Đội ngũ trí thức này gồm cả các thành phân thuộc khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước,... Đội ngũ này được huy động từ nguồn chất xám ở cả nước ngoài lẫn trong nước, đảm bảo quy mô của đội ngũ trong từng lĩnh vực đạt ngưỡng cần thiết. Tính đồng bộ cũng cần được thể hiện ở chỗ phải tạo cơ sở hạ tầng cho công tác khoa học: phòng thí nghiệm hiện đại, kết nối Internet, điều kiện nghiên cứu kèm theo, cơ hội trao đổi khoa học quốc tế.

Ở Hàn Quốc, để chuẩn bị phát triển một ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn nào đó, trước hết phải có hoạch định về đội ngũ: cử hàng trăm chuyên gia có năng lực đi đào tạo ở các cơ sở khoa học và công nghệ tiên tiến ở nước ngoài; thiết lập cơ sở hạ tầng hiện đại cho ngành khoa học công nghệ này như xây dựng phòng thí nghiệm công nghệ cao, đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, Internet, viễn thông hiện đại,.... Cộng hòa Liên bang Đức có hẳn chính sách cụ thể về phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kế cận trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học chủ chốt nhằm đảm bảo duy trì và phát huy tiềm lực khoa học trên các lĩnh vực là thế mạnh của đất nước. Mạnh dạn mới hoặc thuê các nhà khoa học tài năng ở nước ngoài tham gia chủ trì những chương trình nghiên cứu quan trọng, cùng với các chuyên gia trong nước (đã được đào tạo ở nước ngoài) tạo thành êkíp nghiên cứu khoa học có trình độ cao, các êkíp này sẽ sớm có những sản phẩm khoa học đặc thù của quốc gia, cạnh tranh được trên thị trường khoa học và công nghệ quốc tế. Nhờ hoạt động trong tập thểnghiên cứu có trình độ cao như vậy, đội ngũ chuyên gia trong nước sẽ trưởng thành nhanh chóng.

Ở Việt Nam, chúng ta chưa bảo đảm tính đồng bộ trong phát triển các ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn: nhiều phòng thí nghiệm chất lượng cao được xây dựng với kinh phí lớn, nhưng chưa có êkíp chuyên gia nghiên cứu xứng tầm với nó, chưa tạo ra các sản phẩm nghiên cứu có tính cạnh tranh cao trên thị trường khoa học và công nghệ quốc tế.

Đã xem 118 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành