Thứ tư, 27 Tháng 3 2019 16:54

TƯ CÁCH PHÁP NHÂN CỦA DOANH NGHIỆP

1. Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

Nếu một tổ chức không có tư cách pháp nhân thì không có đủ tư cách pháp lý để tham gia các quan hệ và giao dịch dân sự. Tổ chức không có tư cách pháp nhân chỉ tham gia giao dịch với tư cách của một hoặc một số cá nhân.

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, pháp nhân là một tổ chức có đủ các điều kiện như: được thành lập theo quy định của Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức là cơ quan điểu hành và cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Tất cả các công ty đều là thương nhân theo quy định của Luật thương mại năm 2005[1] và đều là pháp nhân thương mại theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015[2].

Trước đây, Luật doanh nghiệp năm 1999 quy định công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân. Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng như năm 2015 đều quy định, tất cả các công ty, bao gồm công ty TNHH, công ty cổ phần và công ty hợp danh đều “có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”[3].

Để phân biệt một tổ chức có tư cách pháp nhân hay không thì cần xem xét một số yếu tố pháp lý như đó là thành viên độc lập hay phụ thuộc của pháp nhân, việc hạch toán độc lập hay phụ thuộc, trong đó quan trọng nhất là, nếu đúng là công ty có tư cách pháp nhân thì phải có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, với mã số doanh nghiệp gồm 10 chữ số thay vì Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, với mã số đơn vị phụ thuộc doanh nghiệp.

2. Tư cách pháp nhân không đồng nghĩa với trách nhiệm hữu hạn của doanh nghiệp

Tất cả các công ty nói riêng, các pháp nhân nói chung đều chịu trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên chỉ có hai loại công ty có tên gọi gắn liền với cụm từ trách nhiệm hữu hạn. Đó là hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), bao gồm: Công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên. Loại công ty TNHH một thành viên lại được chia nhỏ làm hai loại, bao gồm: Công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu là tổ chức và công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu là cá nhân.

Bộ luật dân sự cũng đã quy định, pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác[4].

Luật phá sản là một trong những bằng chứng rõ nhất khẳng định ý nghĩa TNHH của các pháp nhân, tức là khi doanh nghiệp bị phá sản, thì chỉ giới hạn trách nhiệm tài sản trong phạm vi số vốn góp của thành viên và cổ đông vào công ty. Riêng công ty hợp danh, tuy cũng là một pháp nhân, nhưng không hoàn toàn là trách nhiệm hữu hạn, mà hai loại thành viên hợp danh và hợp vốn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn khác nhau. Trong đó, thành viên hợp danh thì phải chịu trách nhiệm vô hạn và thành viên hợp vốn thì chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn góp. Đối với doanh nghiệp tư nhân cũng được phá sản, nhưng vì không phải là pháp nhân, nên không được xóa trách nhiệm trả nợ, tức là trách nhiệm trả nợ vẫn là vô hạn.

Cụ thể, Luật phá sản năm 2014 quy định, khi doanh nghiệp phá sản thì phải thanh lý tài sản của doanh nghiệp để trả nợ. Mà tài sản của doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh, thì ngoài các tài sản của trực tiếp doanh nghiệp còn bao gồm cả tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh[5].

Như vậy, nếu giao dịch với pháp nhân thì phải bảo đảm giao dịch vi chính pháp nhân và người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của pháp nhân. Nếu giao dịch với chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng, ban hay đơn vị phụ thuộc khác của pháp nhân, thì phải bảo đảm có sự phân cấp, ủy quyền của pháp nhân, đặc biệt là của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân.

3. Thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định, tất cả các thành viên và chủ sở hữu công ty TNHH cũng như cổ đông công ty cổ phần chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp hoặc đã cam kết góp vào công ty.

Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối vối các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên[6]. Trường hợp các thành viên được công ty hoàn trả một phần vốn góp do giảm vốn điều lệ và chia lợi nhuận cho thành viên trái với quy định của Luật doanh nghiệp, thì phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty cho đến khi các thành viên đã hoàn trả đủ số tiền, tài sản khác đã nhận tương đương với phần vốn đã giảm hoặc lợi nhuận đã chia[7].

Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên do một pháp nhân hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Trường hợp chủ sở hữu không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối vối các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ[8]. Trường hợp chủ sở hữu rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đã góp ra khỏi công ty ngoài cách thức chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vôn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, thì chủ sở hữu và cá nhân, tổ chức có liên quan phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty[9].

Cổ đông công ty cổ phần chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vn đã góp vào doanh nghiệp[10], cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng vối tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn chưa thanh toán[11].

Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp ngoài trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần, thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra[12].

Thành viên góp vốn của công ty hợp danh chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp hoặc đã cam kết góp vào công ty[13].

Bộ luật dân sự cũng đã quy định, người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác[14].

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định, riêng thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty[15]. Trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh do tự nguyện rút vốn khỏi công ty hoặc bị khai trừ khỏi công ty, thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên[16].

Thành viên hợp danh mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, trừ trường hợp thành viên đó và các thành viên còn lại có thỏa thuận khác[17].

4. Trách nhiệm vô hạn của cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, tổ hơp tác

Cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân là những cá nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân, vì vậy phải chịu trách nhiệm vô hạn (về toàn bộ nghĩa vụ dân sự và nợ nần của mình.

Các đơn vị, bộ phận phụ thuộc pháp nhân như chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng, ban,... của pháp nhân không có tư cách pháp nhân, nhưng không phải chịu trách nhiệm vô hạn, vì các đơn vị này không có tư cách pháp lý để giao dịch hoặc chỉ được giao dịch theo sự ủy quyền của pháp nhân. Vì vậy, pháp nhân sẽ là người chịu trách nhiệm và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối vối các đơn vị, bộ phận phụ thuộc này.

Như vậy, có thể thấy rằng, trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp có thể là vô hạn hoặc hữu hạn tùy theo loại hình của doanh nghiệp. Pháp luật bảo hộ hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp cũng như bảo đảm sự an toàn môi trường kinh doanh trong quá trình hoạt động kinh doanh, sản xuất, cung ứng dịch vụ của các doanh nghiệp, và cố gắng quy định trách nhiệm nhằm giảm thiểu một các tối đa nhất các rủi ro nếu nó xảy ra.

 


[1] Khoản 1 Điều 6 về “Thương nhân”, Luật thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Khoản 2 Điều 75 về “Pháp nhân thương mại”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Khoản 2 Điều 47 về “Công ty TNHH hai thành viên trở lên”; khoản 2 Điều 73 về “Công ty TNHH một thành viên”; khoản 2 Điều 110 về “Công ty cổ phần” và khoản 2 Điều 172 về “Công ty hợp danh”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[4] Khoản 3 Điều 93 về “Trách nhiệm dân sự của pháp nhân”, Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 87 về “Trách nhiệm dân sự của pháp nhân”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[5] Điểm b khoản 2 Điều 64 về “Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán”, Luật phá sản năm 2014.

[6] Điểm b khoản 1 Điều 47 về “Công ty TNHH hai thành viên tr lên”; khoản 4 Điều 48 về “Thực hiện góp vốn thành lập công ty và cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp”; khoản 1 Điều 51 về “Nghĩa vụ của thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[7] Điều 70 về “Thu hồi phần vốn góp đã hoàn trả hoặc lợi nhuận đã chia”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[8] Khoản 1 Điều 73 về “Công ty TNHH một thành viên”; Điều 74 về “Thực hiện góp vốn thành lập công ty”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[9] Khoản 5 Điều 76 về “Nghĩa vụ của chủ sỏ hữu công ty”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[10] Điểm c khoản 1 Điều 110 về “Công ty cổ phần”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[11] Khoản 1 Điều 112 về “Thanh toán cổ phần đã đảng ký mua khi đăng ký doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[12] Khoản 1 Điều 115 về “Nghĩa vụ của cổ đông phô thông”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[13] Điểm c khoản 1 Điều 172 về “Công ty hợp danh”; điểm a khoản 1 Điều 182 về “Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[14] Khoản 3 Điều 87 về “Trách nhiệm dân sự của pháp nhân”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[15] Điểm b khoản 1 Điểu 172 về “Công ty hợp danh”; điểm đ khoản 2 Điều 176 về “Quyển và nghĩa vụ của thành viên hợp danh”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[16] Khoản 5 Điều 180 về “Chấm dứt tư cách thành viên hợp danh”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[17] Khoản 3 Điều 181 về “Tiếp nhận thành viên mối”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

Đã xem 8 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành