Thứ sáu, 24 Tháng 5 2019 03:41

KINH NGHIỆM VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA CỦA NHẬT BẢN

Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển. Năm 2018, quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP danh nghĩa lớn hàng thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Trung Quốc, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua thì lớn thứ tư sau Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng là một nước có truyền thống vay nợ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách.

Nhìn lại lịch sử nền kinh tế của Nhật Bản phát triển nhanh chóng trong thập niên 1960-1970, nhưng đến năm 1990 thì lâm vào suy thoái, đặc biệt là từ năm 1997, khi nền kinh tế "bong bóng" vỡ, chính phủ Nhật Bản đã nỗ lực kéo nền kinh tế ra khỏi trạng thái đình đốn bằng việc tăng chi tiêu công và kích thích tiêu dùng tư nhân. Trong những năm gần đây, rất nhiều công ty bị phá sản - hơn 17.000 công ty. Đây cũng là điều dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp tăng. So với các nước phương Tây thì tỉ lệ thất nghiệp của Nhật ít hơn nhiều, nhưng nếu xét theo tiêu chuẩn Nhật Bản thì con số đó lại cao - 5,2% vào năm 2003. Trong số những người bị thất nghiệp, rất nhiều người đã phải ngủ ngoài đường vì không có nhà, hay thậm chí là tự tử. Trước tình hình đó, Nhật Bản đang cố khắc phục để xây dựng lại nền kinh tế tốt hơn.

Đến nay, ước tính mỗi năm thâm hụt ngân sách của Nhật Bản tăng thêm 10%, phần lớn là từ các gói kích thích tài khóa của chính phủ. Đầu năm 2013, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã phê duyệt gói kích thích kinh tế trị giá 226,5 tỷ đôla Mỹ, là gói kích thích lớn nhất kể từ năm 2009. Trước đó, tháng 10-2012, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua gói kích thích trị giá 5,3 tỷ đôla Mỹ.

Chính sách tài khóa mờ rộng cùng với chính sách lãi suất thấp được thực hiện ờ Nhật Bản trong thời gian dài, nhưng nhìn chung các chính sách này cũng không thúc đẩy tăng trường kinh tế được nhiều. Trong nhiều năm, Nhật Bản rơi vào tình trạng giảm phát, trong khi chi phí phúc lợi xã hội không ngừng gia tăng, các nguồn thu từ thuế của chính phủ ngày càng giảm do chính sách giảm thuế suất. Không ngạc nhiên khi thấy rằng thâm hụt ngân sách của Nhật Bàn liên tục gia tăng, tất yếu dẫn tới tỷ lệ nợ công tăng cao.

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, ngoài việc tập trung khắc phục những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính phủ Nhật Bản còn phải khắc phục hậu quả của thảm họa động đất và sóng thần xảy ra vào tháng 3- 2011 khiến tình trạng nợ công của nước này càng trầm trọng hơn. Tính đến tháng 9-2012, nợ công của Nhật Bản đã đạt mức kỷ lục là 12,4 nghìn tỷ đôla Mỹ, trong đó một phần do tác động của nhũng can thiệp trên thị trường tiền tệ nhằm ghìm giá đồng nội tệ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tính từ năm 2015 đến nay nợ công của chính phủ Nhật Bản đã tăng 22,19 nghìn tỷ yên. Trong bối cảnh đó, mục tiêu ổn định kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và giảm tỷ lệ nợ công ở Nhật Bản cùng một lúc đã không đạt được. Có một nghịch lý là, trong khi nợ công của Nhật Bản liên tục gia tăng thì lãi suất luôn duy trì ở mức thấp, chỉ xoay quanh biên độ 0-0,1%. Điều này phản ánh một thực trạng là nguồn tiết kiệm trong nước của Nhật Bản là rất lớn; các nhà đầu tư trái phiếu trong nước vẫn tiếp tục mua vào trái phiếu chính phủ khi việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư có lợi nhuận cao hiện nay là rất khó khăn.

Có thể giải thích cho tình trạng nợ công cao của Nhật Bản hiện nay theo nhiều cách, nhưng chủ yếu vẫn là do kết quả của việc chính phủ Nhật Bản liên tục tung ra các gói kích thích nhằm kéo nền kinh tế ra khỏi tình trạng trì trệ trong suốt hai thập kỷ qua. Rõ ràng, khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 hay khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đều có rinh chất chu kỳ. Tăng chi tiêu công là giải pháp truyền thống của Nhật Bản để đối phó với các cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ này. Điểm tích cực hỗ trợ cho trạng thái nợ công của Nhật Bản hiện nay là 95% tổng số nợ là do các nhà đầu tư trong nước, trong khi hệ số ICOR của Nhật Bản chi khoảng 3,0 nên khả năng trả nợ là rất khả quan. Ngoài ra, Nhật Bản có lượng dự trữ ngoại hối lớn (vào tháng 5-2011 là khoảng 1.047 tỷ đôla Mỹ) và tỷ lệ tiết kiệm của hộ dân cư cao nên khả năng xảy ra khủng hoảng nợ công trong ngắn hạn là khá thấp.

Một nguyên nhân khác là chi phí an sinh và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản khá cao. Dân số trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ 1/4 dân số Nhật Bản là mối bận tâm rất lớn của chính phủ trong việc bào đảm quỹ lương hưu và các dịch vụ chăm sóc y tế cho người già. Trong năm tài khóa 2013-2014, tổng chi phí an sinh xã hội của Nhật Bản chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi ngân sách chính phủ. Giải pháp của Nhật Bản nhằm bảo đảm hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội là phát hành trái phiếu chính phủ, nhưng việc này sẽ làm nợ công của Nhật Bản càng tăng cao.Theo kế hoạch, Nhật Bản đã huy động 46% ngân sách thông qua phát hành công trái trong năm tài khóa 2013. Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng nội địa vẫn rất yếu ớt; chỉ số giá tiêu dùng giảm liên tiếp dù có tăng trở lại nhưng đây chưa phải là dấu hiệu cho thấy Nhật Bản đã thoát khỏi tình trạng giảm phát. Thực trạng này cho thấy, nợ công gia tăng càng khiến cho mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng trở nên khó khăn hơn.

Ngoài việc thúc đẩy tăng trưởng thông qua các gói kích thích, chính phủ Nhật Bản còn thông qua chính sách thuế. Giống như Canada, chính phủ Nhật Bản theo đuổi chính sách thuế suất thấp nhằm mục tiêu khuyến khích doanh nghiệpđầu tư và tăng tiêu dùng của người dân đế sau đó tạo ra nguồn thu mới cho ngân sách tốt hơn là áp đặt mức thuế cao. Thuế doanh thu của Nhật Bản là 5%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước châu Âu. Tỷ lệ thu từ thuế nên GDP của Nhật Bản đạt khoảng 17%, là mức thấp nhất trong số các nước thuộc khối OECD. Đặt trong bối cảnh nền kinh tế giảm phát liên tục trong nhiều năm và liên tiếp đối mặt với các cuộc kliủng hoảng cũng như thiên tai, mức thuế suất thấp đã làm tùm trọng hơn tình trạng nợ công của Nhật Bản.

Chưa hết, nợ công của Nhật Bản còn do chính sách nới lỏng tiền tệ của nước này. Như đã đề cập, lãi suất cơ bản của Nhật Bản chỉ xoay quanh mức 0%-0,l% và ổn định trong thời gian dài. Mục tiêu của chính sách lãi suất thấp là tạo nguồn vốn rẻ cho đầu tư và các hoạt động sản xuất kinh doanh và gia tăng nhu cầu tiêu dùng cùa người dân. Tuy nhiên, lãi suất thấp và giảm phát lại khiến người dân muốn nắm giữ tiền mặt hơn là đầu tư vào trái phiếu hay các công cụ đầu tư khác. Chính điều này đã làm chính sách nới lỏng tiền tệ không đạt được hiệu quả mong muốn.

Từ thực tế thực thi chính sách tài khóa của Nhật Bản như phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy đế tình trạng nợ công bớt trầm họng và xa hơn nữa là đạt mục tiêu tăng trường kinh tế, Nhật Bản nên có một kế hoạch bình ổn tài khóa cả ữong ngắn hạn và trung hạn tương ứng với các chu kỳ kinh tế với trọng tâm là làm giảm tỷ lệ nợ công. Nhật Bản có thế cắt giảm chi tiêu công tương tự như Canada thông qua việc tinh giản hệ thống công quyền hay tăng tuổi nghỉ hưu, tuổi hưởng trợ cấp, giảm các khoản trợ cấp xã hội không cần thiết. Ngoài ra, có thê tăng nguồn thu cho ngân sách thông qua tăng thuế suất, cải thiện hiệu quả đầu tư công, tăng các chi phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Kết quả từ một cuộc điều tra chi ra rằng, có tới 70% người dân Nhật Bản sẵn sàng nộp nhiều thuế hơn để giúp nền kinh tế tăng trưởng trở lại.

Tăng chi tiêu chính phủ và thuế suất thấp đã không tạo ra tăng trưởng cao và ổn định, điều này chỉ có thể được giải thích bởi một trong hai khả năng: các công cụ tài khóa mớ rộng kết hợp với công cụ chính sách tiền tệ nới lỏng không thích hợp với các điều kiện kinh tế thực tế của Nhật Bản; hoặc độ lớn của các công cụ tài khóa này chưa hợp lý để có thế đạt được mục tiêu căn bản của các chính phủ khi áp dụng các công cụ chính sách ngược chu kỳ, đó là làm thay đổi tổng cầu của nền kinh tế.

Bài học rút ra từ chính sách tài khóa thiếu hiệu quả của Nhật Bản là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng đình đốn, để có thể gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, cần phải đặt ra những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Việc thiết lập một cơ quan độc lập chuyên đánh giá hiệu quả của chính sách tài khóa mở rộng hay chính sách tài khóa thắt chặt trong điều hành kinh tế là rất cần thiết. Khi nợ công tăng lên liên tục, các giải pháp nhằm cắt giảm chi tiêu công và tăng nguồn thu cho ngân sách có thể là yếu tố then chốt để ổn định trạng thái nợ chính phủ trong dài hạn.

Đã xem 1 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành