In trang này
Thứ tư, 29 Tháng 5 2019 03:49

VỀ TÊN VÀ BIỂN HIỆU CỦA DOANH NGHIỆP

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định tên doanh nghiệp phải được gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Tên doanh nghiệp phải được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành[1].

Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện và địa đỉểm kinh doanh. Tên chi nhánh, văn phòng đại diện được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do chi nhánh, văn phòng đại diện phát hành[2].

Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định, tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoặc trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành[3]. Vì luật không quy định khổ chữ phải nhỏ hơn bao nhiêu, do đó nhiều doanh nghiệp có thể chỉ viết nhỏ hơn một vài phần trăm, tức nhìn bằng mắt thường không thấy khác nhau, nhưng vẫn đúng luật.

Luật quảng cáo năm 2012 thì quy định cụ thể hơn, trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì khổ chữ nước ngoài không được quá 3/4 khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt; khi phát trên đài phát thanh, truyền hình hoặc trên các phương tiện nghe nhìn, phải đọc tiếng Việt trưốc tiếng nước ngoài[4].

Riêng đối với các sản phẩm thực phẩm chức năng thì nội dung quảng cáo phương tiện thông tin đại chúng, tò rơi, poster, áp phích phải có dòng chữ hoặc lời đọc “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”, chữ viết phải bảo đảm cỡ chữ Times New Roman 14[5].

Đối với các hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải được lập thành văn bản và phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Thứ nhất, ngôn ngữ sử dụng bằng tiếng Việt, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là 12. Thứ hai, nền giấy và màu mực thể hiện nội dung hợp đồng theo mẫu và đỉều kiện giao dịch chung phải tương phản nhau[6].

Luật quảng cáo năm 2012 cũng quy định biển hiệu của doanh nghiệp hoặc cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh phải có các nội dung sau: Tên cơ quan chủ quản trực tiếp (nếu có); tên cơ sở sản xuất, kinh doanh theo đúng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ, điện thoại[7]. Riêng số điện thoại thì không phải là yếu tố bắt buộc phải có đối với một doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp thì không có cơ quan chủ quản, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 cũng như các nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đều không có khái niệm cơ quan chủ quản. Riêng công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên, trọng đó có doanh nghiệp nhà nước, thì có thể có cơ quan chủ sở hữu (mà bản chất pháp lý là thành viên duy nhất của công ty). Tuy nhiên, nếu ghi tên cơ quan chủ sở hữu trong trường hợp này thì cũng là điều không hợp lý, vì không bao giờ ghi yếu tố tương tự là tên cá nhân, thành viên hay cổ đông trên tên của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp ghi tên mình dưới tên cơ quan cấp giấy phép, giấy chứng nhận là ủy ban nhân dân tỉnh, sỏ Kế hoạch đầu tư,... là sai, thậm chí là vi phạm pháp luật, vì gây nhầm lẫn cho người khác. Nhưng cơ quan này không phải là cơ quan chủ quản. Trong khi đó, Nghị định số 158/2013/NĐ-CP lại quy định, phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng nếu “không thể hiện đầy đủ trên biển hiệu tên cơ quan chủ quản trực tiếp; tên cơ sở sản xuất kinh doanh theo đúng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ, điện thoại”[8].

Chữ viết trên biển hiệu và trong các sản phẩm quảng cáo phải có nội dung thể hiện bằng tiếng Việt, trừ những trường hợp sau: Nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc các từ ngữ đã được quốc tế hóa không thể thay thế bằng tiếng Việt; sách, báo, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài[9].

Kích thước biển hiệu được quy định như sau: Đối với biển hiệu ngang thì chiều cao tối đa là 2 mét, chiều dài không vượt quá chiều ngang mặt tiền nhà; đối với biển hiệu dọc thì chiều ngang tối đa là 1 mét, chiều cao tối đa là 4 mét, nhưng không vượt quá chiều cao của tầng nhà nơi đặt biển hiệu. Biển hiệu không được che chắn không gian thoát hiểm, cứu hoả; không được lấn ra vỉa hè, lòng đưòng, ảnh hưởng đến giao thông công cộng. Việc đặt biển hiệu phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền ban hành[10].

Pháp luật không có quy định cấm làm biển hiệu với kích thước nhỏ xíu hay viết vẽ sơ sài, nghệch ngoạc, tạm bợ. Doanh nghiệp tự quyết định làm thế nào cho biển hiệu bền đẹp, trang trọng, miễn là phải có ba nội dung là tên doanh nghiệp, địa chỉ, điện thoại theo quy định của Luật doanh nghiệp và Luật quảng cáo.

Doanh nghiệp có thể bị phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng nếu sử dụng biển hiệu lớn hơn kích thưc nêu trên. Nếu có một trong các hành vi sau đây thì bị phạt tiền từ 10 đến 15 triệu đồng: Ghi không đúng hoặc ghi không đầy đủ tên gọi bằng tiếng Việt trên biển hiệu; không viết bằng chữ tiếng Việt mà chỉ viết bằng chữ tiếng nước ngoài trên biển hiệu; thể hiện tên riêng, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài ở phía trên tên bằng chữ tiếng Việt trên biển hiệu; thể hiện tên gọi, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài có khổ chữ quá 3/4 khổ chữ tiếng Việt trên biển hiệu; kinh doanh mà không có biển hiệu; quảng cáo hàng hóa lẫn với biển hiệu; chiều cao của biển hiệu dọc vượt quá chiều cao của tầng nhà nơi đặt biển hiệu. Doanh nghiệp có một trong các hành vi sau đây thì bị phạt tiền từ 15 đến 20 triệu đồng: Treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu che chắn không gian thoát hiểm, cứu hỏa; treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu lấn ra vỉa hè, lòng đưng, ảnh hưỏng đến giao thông công cộng; treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu làm mất mỹ quan. Ngoài ra, doanh nghiệp buộc phải tháo d biển hiệu đối với các vi phạm nêu trên để khắc phục hậu quả. Nghị định này cũng quy định xử phạt vi phạm của “cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh” giống như đi với doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng như Luật thương mại đều không có quy định về “cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh”. Tuy nhiên, có thể hiểu Luật quảng cáo năm 2012 mun nhắc đến các cá nhân có đăng ký kinh doanh dưới hình thức “hộ kinh doanh”. Nếu đúng như vậy, thì hầu hết mấy triệu hộ kinh doanh đều vi phạm quy định về biển hiệu, mà phổ biến và rõ ràng nhất là việc “Ghi không đứng hoặc ghi không đầy đủ tên gọi bằng tiếng Việt trên biển hiệu” (theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh). Đó là chưa kể còn rất nhiều cá nhân kinh doanh nhưng không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.


[1] Khoản 2 Điều 38 v “Tên doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[2] Khoản 2 Điều 41 về “Tên chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh”, Luật doanh nghiệp năm 2014; khoản 3 Điều 29 về “Tên Văn phòng đại diện, Chi nhánh”, Nghị định số 07/2016/NĐ-CP ngày 25-01-2016 của Chính phủ “Quy định chi tiết Luật thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam”.

[3] Khoản 2 Điều 40 về “Tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt của doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[4] Khoản 2 Điều 18 về “Tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo”, Luật quảng cáo năm 2012.

[5] Điểm e khoản 1 Điều 4 về “Điều kiện đôi với nội dung quảng cáo thực phẩm”, Thông tư số 08/2013/TT-BYT ngày 13-3-2013 của Bộ trưỏng Bộ Y tế “Hướng dẫn về quảng cáo thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tể’.

[6] Điều 7 về Yêu cầu chung đối với hợp đồng theo mẫu và điu kiện giao dịch chung”, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27-10-2011 của Chính phủ “Quy định chi tiết và hưóng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”.

[7] Khoản 1 Điều 34 về “Biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh”, Luật quảng cáo năm 2012.

[8] Điểm a khoản 1 Điều 66 về “Vi phạm quy định về biển hiệu”, Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch và quảng cáo” (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 05-5-2017).

[9] Khoản 2 Điều 34 về “Biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh”; khoản 1 Điều 18 về “Tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo”, Luật quảng cáo năm 2012.

[10] Các khoản 3, 4 và 5 Điều 34 về “Biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh”, Luật quảng cáo năm 2012.

Đã xem 23 lần