Thứ năm, 30 Tháng 5 2019 04:08

VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ THUẾ TRONG NỀN TÀI CHÍNH CÔNG

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 07-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Theo đó, Luật quản lý thuế đã được ban hành và điều chỉnh sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần chặn đứng đà giảm sút của quy mô thu ngân sách so với tổng sản phẩm trong nước (GDP). Bên cạnh đó yêu cầu cải cách thủ tục hành chính nên việc cải cách thủ tục quản lý thuế hướng tới hoạt động quản lý thuế thống nhất, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, công khai minh bạch, tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác thuế để phòng, chống trốn thuế, thất thu và nợ thuế.

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin việc quản lý thuế cũng cần được số hóa và tạo hành lang pháp lý cho quản lý thuế điện tử được rộng rãi phổ biến phù hợp với nền kinh tế hội nhập, đáp ứng với nhu cầu mua bán bằng phương tiện điện tử và hoạt động việc khai thuế, đăng ký nộp thuế điện tử của doanh nghiệp đã được áp dụng phổ biến. 100% doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đều đã thực hiện các thủ tục hải quan điện tử. Hạ tầng công nghệ thông tin của cơ quan thuế đã đảm bảo kết nối từ Tổng cục (cấp trung ương) tới 63 cục thuế và 100% các chi cục thuế trên cả nước. Do đó, Luật quản lý thuế hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến quản lý thuế điện tử phục vụ có hiệu quả sự phát triển của hoạt động kinh tế.

Luật quản lý thuế cần được xây dựng theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công tác quản lý thuế thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện trên cở sở các nền tảng cơ bản: Thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao.

Ở các nước, mục tiêu cơ bản của một cơ quan thuế là “đạt được mức độ tuân thủ cao nhất có thể được đối với các luật thuế”. Theo đó, tổng số thuế thu được mà có thể dùng cho các chương trình của chính phủ sẽ được tối đa hóa. Trong khi khái niệm này là tương đối đơn giản, có nhiều nhân tố làm phức tạp hóa khả năng đạt được trên thực tế, cụ thể là những điều sau:

Thứ nhất, không phải tất cả đối tượng nộp thuế đều tuân thủ nghĩa vụ thuế, do đó có nhiều cách hoặc nhiều lý do để trốn hoặc trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình; việc xác định và sắp xếp thứ tự các rủi ro về tuân thủ thuế, quyết định cách giải quyết những rủi ro này, cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết giữa các thành phần đối tượng nộp thuế và sắc thuế khác nhau lý tưởng nhất là cần có một quy trình thủ tục được hệ thống hóa để nâng cao các kết quả tổng thể.

Thứ hai, các đạo luật về thuế đều phức tạp và đang ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi cơ quan thuế phải dành ra một phần nguồn lực hạn chế của mình để làm rõ cách áp dụng các luật thuế và giáo dục đối tượng nộp thuế cũng như nhân viên của mình về các yêu cầu của những luật thuế đó.

Thứ ba, đối tượng nộp thuế ngày càng mong đợi nhận được các dịch vụ có tiêu chuẩn cao hơn khi làm việc với cơ quan thuế, đòi hỏi cơ quan này phải có các quy trình cung ứng dịch vụ hiệu quả.

Thứ tư, để hỗ trợ tất cả các hoạt động tiền tuyến”, đặc biệt là hoạt động cung ứng dịch vụ và triển khai biện pháp cưỡng chế, một cơ quan thuế phải đầu tư một phần đáng kể nguồn lực hạn chế của mình để xây dựng và củng cố cơ sở hạ tầng cần thiết, ví dụ, công trình, trang thiết bị, hệ thống công nghệ và đào tạo nhân sự để quản lý hiệu suất.

Xét tới các nhân tố trên, một điều rõ ràng là tính hiệu suất của một cơ quan thuế về bản chất gắn với sự hoàn thành mục tiêu cơ bản của mình. Khi cơ quan thuế được giao các trách nhiệm khác, ví dụ, hoạt động hải quan, các thách thức đối mặt sẽ càng lớn hơn vì phải đáp ứng các yêu cầu bổ sung của những nhiệm vụ đó.

Từ hai đến ba thập kỷ gần đây, sự quan tâm tới tính hiệu quả và hiệu suất của cơ quan thuế đã tăng lên đáng kể do bối cảnh ngân sách hạn hẹp, nhiều chính phủ bắt đầu xem xét kĩ càng hơn “giá trị gia tăng/tỷ lệ hoàn vốn” từ các chương trình khu vực công; các cơ quan thuế với trách nhiệm kép phải đảm bảo vừa thu thuế hiệu quả vừa chi tiêu các nguồn vốn chính phủ cẩn trọng là trọng tâm của mối quan tâm này. Tiến trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ đã làm tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các cơ quan thuế quốc gia (ví dụ, về chia sẻ thông tin đối tượng nộp thuế) để đáp ứng các nhu cầu hoạt động. Các tổ chức quản lý thuế khu vực đã nổi lên, cho phép tăng cường đối thoại về hầu hết các khía cạnh liên quan tới hoạt động và hiệu quả hoạt động của các cơ quan thuế. Hoạt động của các tổ chức quốc tế, ví dụ, IMF, OECD và Ngân hàng Thế giới nhằm hỗ trợ các nước đạt được các mục tiêu huy động thuế ngày càng hướng tới sử dụng các thông lệ và cách tiếp cận của các cơ quan thuế ở những nước phát triển. Mạng Internet tạo điều kiện tiếp cận kịp thời thông tin liên quan, đóng vai trò chất xúc tác cho chia sẻ kiến thức và tăng cường đối thoại giữa cơ quan thuế và các bên quan tâm.

Nhờ có ngày càng nhiều các ấn phẩm chính thức từ nhiều tác giả khác nhau, như tổ chức quốc tế và tổ chức thuế khu vực trình bày về kinh nghiệm quản lý thuế, sự nhìn nhận sâu sắc về các thông lệ và cách tiếp cận có thể đóng góp đáng kể cho tăng cường tính hiệu suất của cơ quan thuế.

Có nhiều nhân tố mà ở một mức độ nhất định cho thấy có tác động tới tính hiệu suất của quản lý thuế. Chương này sẽ tập trung vào sáu lĩnh vực cốt lõi về khuôn khổ thể chế, cơ chế tổ chức, khuôn khổ pháp luật hành chính, hệ thống quản trị, quy trình hoạt động, hệ thống thông tin liên lạc và công nghệ thông tin, quản lý nhân lực, khuôn khổ thể chế.

Nhu cầu thiết lập một hệ thống thuế quốc gia làm nổi lên vấn đề căn bản là những cơ chế thể chế nào là phù hợp nhất để đảm bảo hiệu quả hoạt động tối ưu. Các cân nhắc quan trọng để đạt được tính hiệu quả và hiệu suất của quản lý thuế bao gồm:

Liệu nên có một cơ quan duy nhất để thu tất cả các sắc thuế, hay có các cơ quan riêng biệt để thu các loại thuế trực tiếp và thuế gián tiếp hay áp dụng một cơ chế khác?

Cơ quan nào nên chịu trách nhiệm cho việc thu và cưỡng chế thu các đóng góp an sinh xã hội?

Các lĩnh vực khác thuộc trách nhiệm chính phủ, như hải quan, phúc lợi, thu các khoản nợ không bao gồm thuế có nên được tổ chức phù hợp với các hoạt động quản lý thuế để tận dụng các lợi thể liên quan tới hiệu quả và hiệu suất không?

Cơ quan thuế nên được trao những quyền lực gì và mối quan hệ của cơ quan này với các bộ phận khác của chính phủ, ví dụ, bộ trưởng tài chính và Bộ Tài chính ra sao?

Đã xem 374 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành