Thứ hai, 02 Tháng 3 2020 02:49

GIỚI THIỆU VỀ KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT GIÁ CẢ VÀ HÀNG HOÁ TRONG THỜI KỲ LẠM PHÁT SAU CHIẾN TRANH Ở NHẬT BẢN

Ngay sau khi chấp nhận đầu hàng không điều kiện vào năm 1945, Nhật Bản đã bắt đầu cố gắng để khôi phục nền kinh tế bị Chiến tranh thế giới thứ hai phá huỷ hoàn toàn. Những cố gắng này đòi hỏi phải có thời gian để mang lại kết quả. Năm 1946 tổng sản phẩm nội địa thực tế theo đầu người đạt chưa đầy 55% mức cao nhất trước chiến tranh trong thời kỳ 1934-6. Năm 1946 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế tạo chỉ đạt 1/5 mức cao nhất vào năm 1944. Hơn nữa vụ gặt lúa là vụ tồi tệ nhất kể từ năm 1903 và nhân dân buộc phải sống ở mức tối thiểu. Những nỗi đau khổ về kinh tế lại tăng lên gấp bội do nạn lạm phát phi mã. Năm 1946 chỉ số giá buôn tăng gần 300% vì tiếp tục tăng hơn 100% trong mấy năm tiếp theo. Chỉ số giá bán lẻ của hơn 200% trong năm 1946.

Tình trạng siêu lạm phát này một phần là do sự mất cân đối giữa cung và cầu. Việc cung cấp hàng hoá bị cắt giảm nghiêm trọng do thiếu nguyên liệu và công suất sản xuất bị tàn phá, trong khi đó nhu cầu về hàng hoá lại tăng lên cùng với đà tăng dân số nhanh chóng ở trong nước. Việc tăng cung cấp tiền tệ cũng góp phần vào nạn lạm phát, những khoản tăng này đi cùng với những khoản chi phí ngày càng tăng của chính phủ để thanh toán những tài khoản trong thời chiến. Để đối phó với nạn lạm phát Ban ổn định kinh tế (Kezai Antei-honbu) được thành lập vào tháng 8-1946, trước hết nhằm giải quyết vấn đề lạm phát bằng kiểm soát giá cả và cung cấp hàng hoá theo định lượng. Tuy nhiên, chẳng bao lâu Ban ổn định kinh tế bắt đầu thực hiện Hệ thống sản xuất ưu tiên, hướng các nguồn tài nguyên hạn chế vào những ngành công nghiệp cơ bản cụ thể như khai thác than và công nghiệp sắt thép. Đặc biệt, Ban ổn định kinh tế trước hết phân bổ các nguồn tài nguyên cho ngành công nghiệp than, khi sản lượng than tăng lên thì lại được đem phân bổ cho ngang công nghiệp sắt thép. Cuối cùng, sản lượng sắt thép tăng lên được phân bổ trở lại cho khai thác than để tăng hơn nữa sản lượng của ngành đó. Bằng cách sử dụng nguồn tài nguyên hạn chế Nhật Bản để tạo ra vòng sản xuất tốt đẹp này. Ban ổn định kinh tế hy vọng giảm được nạn lạm phát cũng như tăng cường được sự độc lập kinh tế của Nhật Bản.

Bất chấp những kiểm soát giá cả và Hệ thống sản xuất ưu tiên, nạn lạm phát có thấp hơn một chút nhưng vẫn ở mức rất cao cho đến năm 1949, khi nó bị những chính sách giảm phát của Joseph Dodge gọi là Đường Lối Dodge, chặn đứng. Dodge, một người theo trường phái kinh tế cổ điển, đã chỉ ra những nguyên nhân của các vấn đề kinh tế của Nhật chính là việc quá phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài từ Mỹ, và việc bảo vệ thái quá các khu vực tư nhân bằng những khoản trợ cấp của chính phủ. Bằng cách cắt giảm trợ cấp, tăng thu nhập của chính phủ, và cắt những khoản chi tiêu, những chính sách giảm phát của Dodge đã nhanh chóng ngăn chặn được lạm phát.

Hình 2.1 chỉ ra bốn loại chỉ số giá cả khác nhau cho các hàng tiêu dùng trong thời kỳ 1945-1952: (A) Chỉ số giá cả hàng tiêu dùng tại thị trường tự do Ngân hàng Nhật Bản lập; (B) chỉ số giá thị trường có hiệu quả của hàng tiêu dùng do Văn phòng Thủ tướng lập, thể hiện được mức trung bình có trọng lượng của giá cả thị trường tự do và giá bán lẻ chính thức; (C) chỉ số giá bán lẻ chính thức do Ngân hàng Nhật Bản lập; và (D) chỉ số giá bán lẻ chính thức do Bộ Tài chính lập. Những chỉ số này có thể so sánh được với nhau ở bất cứ thời điểm nào và cũng có thể so sánh từ thời điểm này sang thời điểm khác(4). Hình 2.2 trình bày bốn loại chỉ số giá của tư liệu sản xuất; (E) chỉ số giá cả thị trường tự do của tư liệu sản xuất do Ngân hàng Nhật Bản lập: (F) chỉ số giá cả thị trường có hiệu quả của tư liệu sản xuất do Ngân hàng Nhật Bản lập; (G) chỉ số giá bán buôn chính thức do Ngân hàng Nhật Bản lập; và (H) chỉ số giá bán buôn chính thức ước tính do Bộ Tài chính lập. Hai hình này nêu bật một số đặc điểm của các xu hướng trong các chỉ số giá cả trong thời kỳ lạm phát. Trước hết những giá cả chính thức được biểu thị ở (C), (D), (G) và (H) được nâng lên một cách không đều trong thời gian xem xét lại những giá cả chính thức. Có những lần xem xét lại quy mô lớn giá cả chính thức vào tháng 3-1946, tháng 7-1947, tháng 6-1948 và thắng 4-1949. Thứ hai giá bán lẻ chính thức các hàng tiêu dùng đã tăng gấp 2 lần trong thời kỳ từ tháng 2-1946 đến đỉnh cao nhất của nó vào tháng 9-1949, trong khi chỉ số giá bán buôn chính thức của tư liệu sản xuất chỉ tăng 19 trong gần như cùng thời kỳ đó. Nói cách khác, trong thời kỳ kiểm soát giá cả, giá chính thức của tư liệu sản xuất được duy trì thấp tương đối hơn so với giá hàng tiêu dùng. Khuynh hướng này dần dần mất đi vào tháng 6-1951, khi cả giá hàng tiêu dùng lẫn giá tư liệu sản xuất được ổn định. (Bảng)

anh 1

(A). Chỉ số giá cả hàng tiêu dùng ở chợ đen do Ngân hàng Nhật Bản lập.

(B). Chỉ số giá cả hàng tiêu dùng thị trường có hiệu quả do Văn phòng thủ tướng lập.

(C). Chỉ số giá bán lẻ chính thức được tính do Ngân hàng NB lập.

(D). Chỉ số giá bán lẻ chính thức do Bộ tài chính lập.

Những đặc điểm khác của những xu hướng giá cả cũng thể hiện rõ ràng từ những hình này. Những sự khác nhau đã được xem xét lại giữa giá chính thức cũ và mới đã được thu hẹp lại do giá cả đã được xem xét lại. Những sự khác nhau giữa giá chính thức và giá thị trường tự do cũng dần dần mất đi một phần do giá cả chính thức đã tăng lên trong khi xem xét lại và một phần vì giá cả ngày càng ổn định vào tháng 5-1950 ngay trước khi nổ ra chiến tranh Triều Tiên những sự khác nhau này gần như không còn nữa. Tháng 6-1948 giá hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất trên thị trường tự do đã ổn định rất nhiều, giá hàng tiêu dùng có xu hướng giảm sau tháng 4-1949 và giá hàng tư liệu sản xuất có xu hướng giảm sau tháng 2-1949. Một điều thú vị là, những biện pháp đối với giá cả thị trường tự do là ổn định trước khi thực hiện đường lối Dodge và duyệt xét lại quy mô lớn theo chiều hướng tăng lên lần thứ tư đối với giá cả chính thức. Cuối cùng chúng ta có thể thấy rằng những xu hướng trong giá cả thị trường của tư liệu sản xuất có liên quan một cách chặt chẽ với những thay đổi trong giá cả chính thức tương ứng hơn so với giá cả thị trường của hàng tiêu dùng có liên quan với giá cả chính thức hàng tiêu dùng. Điều này chỉ rõ rằng chính phủ kiểm soát giá tư liệu sản xuất có hiệu quả hơn so với kiểm soát giá hàng tiêu dùng.

Như phân tích ở trên, cuộc đấu trên chống nạn lạm phát diễn ra liên tục gần năm năm. Đó là một gắng lớn và lâu dài, và những chính sách được áp dụng không nhất thiết giống nhau hoặc nhất quán, nhất là vì chúng thể hiện được cố gắng kết hợp của chính phủ Nhật Bản và các cán bộ tham mưu của Tư lệnh tối cao các cường quốc đồng minh và hai bên đôi khi cũng bất đồng ý kiến với nhau. Để phân tích những nết đại cương của cuộc đấu tranh năm năm chống làm phát của Nhật Bản từ quan điểm những chính sách đã áp dụng, đánh giá vai trò của chính sách công cộng trong việc phân bổ nguồn tài nguyên của nền kinh tế Nhật Bản, hệ thống cơ sở dữ liệu hỗ trợ bồi dưỡng sẽ có những bài viết tổng hợp, chuyên sâu liên quan đến nội dung này.

 anh 2

(E) Chỉ số giá chợ đen của tư liệu sản xuất do ngân hàng Nhật Bản lập.

(F) Chỉ số giá thị trường có hiệu quả của tư liệu sản xuất do ngân hàng Nhật Bản lập.

(G) Chỉ số giá bán buôn chính thức do ngân hàng Nhật Bản lập.

(H) Chỉ số giá bán buôn chính thức ước tính do Bộ tài chính lập.

Đã xem 9 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành