Thứ hai, 23 Tháng 6 2014 00:00

Kinh nghiệm quốc tế áp dụng các chỉ tiêu giám sát tài chính mô hình định lượng

1. Một số ngưỡng, chuẩn mực tham chiếu trên thế giới:

- Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế có thể sa vào các thái cực sau: tăng trưởng quá nóng, suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính. Nền kinh tế được coi là suy thoái khi có sự suy giảm tăng trưởng GDP mạnh theo bốn quý liên tiếp. Nền kinh tế được coi là thoát khỏi suy thoái khi có sự tăng trưởng dương trong hai quý liên tiếp và mức thất nghiệp cũng giảm dần, thường là muộn hơn so với sự hồi phục tăng trưởng kinh tế.

- Khủng hoảng tiền tệ: Trong các nghiên cứu về EWS, các cuộc khủng hoảng tiền tệ thường được định nghĩa là tình huống đồng tiền bị mất giá lớn phần lớn là so với đồng USD, dự trữ ngoại tệ sụt giảm và lãi suất ngắn hạn tăng cao.

- Khủng hoảng ngân hàng: Theo một nghiên cứu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), được thực hiện vào tháng 6/2012 bởi Luc Laeven và Fabián Valencia, khủng hoảng ngân hàng có tính hệ thống xảy ra khi có đủ hai điều kiện: (1) những dấu hiệu đình trệ tài chính nghiêm trọng của hệ thống ngân hàng; và (2) có những chính sách can thiệp sâu rộng để giải quyết tình trạng khó khăn của hệ thống. Theo đó, trong năm đầu tiên của khủng hoảng thì cả hai điều kiện trên phải thỏa mãn, và những biện pháp can thiệp phải bao gồm ít nhất ba trong số sáu giải pháp sau: (1) hỗ trợ thanh khoản ở quy mô lớn; (2) chi phí tái cấu trúc ngân hàng; (3) quốc hữu hóa các ngân hàng lớn; (4) bảo lãnh ở quy mô lớn cho các khoản nợ của ngân hàng; (5) mua tài sản từ các tổ chức tài chính; và (6) đóng băng các khoản gửi tiết kiệm.

- Khủng hoảng nợ: Nói chung, sự xuất hiện của khủng hoảng nợ được giải thích như là việc thoả thuận về xác định lại thời gian trả nợ, tiền nợ chưa trả được tính trên số tiền gốc hoặc lãi suất phải trả theo thỏa thuận mới với IMF. Nhiều nghiên cứu đều sử dụng định nghĩa về khủng hoảng nợ dựa trên sự kiện xác định lại lịch trình trả nợ của một nước.

2. Tính hữu dụng của các chỉ tiêu giám sát mô hình định lượng trên thế giới:

Thông tin về tính hữu dụng các các chỉ tiêu an toàn vĩ mô và vi mô trên phạm vi toàn thế giới nói chung là hạn chế. Gần đây, IMF đã thực hiện cuộc khảo sát toàn cầu về tính hữu dụng của các chỉ tiêu an toàn vi mô. Để xác định tính hữu dụng của các chỉ tiêu an toàn vi mô, IMF đã tiến hành khảo sát toàn thế giới theo nhiều chỉ tiêu. Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy, trong ba nhóm nước, các nước mới nổi sử dụng các chỉ tiêu giám sát vi mô cao hơn một chút so với các nhóm nước còn lại. Về trung bình, các chỉ tiêu về chất lượng tài sản, các chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu của các tổ chức cho vay và khả năng lợi nhuận của được sử dụng phổ biến nhất cả ba nhóm nước; các chỉ tiêu về thanh khoản và độ nhạy cảm đối với rủi ro thị trường có tính hữu dụng thấp hơn, nhất là tại các nước phát triển.

3. Một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam:

Xét trên bình diện tổng thể thị trường tài chính, giám sát tài chính ở Việt Nam vẫn còn những bất cập, hạn chế chính sau:

- Các cơ quan giám sát vừa thực hiện chức năng cấp phép, ban hành cơ chế - chính sách, vừa thực hiện chức năng hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế chính sách và kiêm luôn vai trò kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các định chế tài chính. Điều này có thể dẫn tới xung đột về lợi ích, khiến hiệu quả và hiệu lực giám sát không cao.

- Việc thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro, giám sát an toàn vĩ mô vẫn còn yếu kém; chủ yếu thiên về giám sát tuân thủ. Đến nay, vẫn chưa có một quy định chung về cách thức giám sát cho cả hệ thống tài chính; việc giám sát vẫn chưa bao quát được tất cả các lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế, nhất là tập đoàn tài chính trong nước, các tập đoàn xuyên quốc gia. Các công cụ phái sinh tài chính vẫn chậm được áp dụng và ban hành.

- Khó giám sát một cách hữu hiệu các rủi ro chéo do thiếu sự phối kết hợp, liên thông trong giám sát toàn bộ thị trường tài chính do các cơ quan giám sát hoạt động một cách độc lập. Hoạt động phối kết hợp giám sát giữa Việt Nam và các nước khác vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, hiện vẫn chưa có một cơ quan giám sát tài chính vĩ mô có đủ thẩm quyền và năng lực bộ máy để có thể cảnh báo, ngăn ngừa và xử lý hữu hiệu các loại rủi ro của hệ thống tài chính đất nước. Điều này có liên quan đến bản chất của mô hình giám sát tài chính của Việt Nam.

- Vẫn còn thiếu khuyết các công cụ phục vụ cho giám sát an toàn vĩ mô và giám sát an toàn vi mô, nhất là đối với giám sát dựa trên rủi ro trong thời gian tới. Các mô hình phân tích định lượng, dự báo, kiểm định EWS, ST, VaR cho của cả hệ thống tài chính và cho từng định chế tài chính hầu như chưa được phát triển.

- Vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập của các cơ quan thanh tra giám sát tài chính, thể hiện trên các phương tiện kỹ thuật lẫn nguồn nhân lực. Đến nay, công nghệ thu thập, xử lý thông tin để phục vụ cho hoạt động giám sát từ xa còn lạc hậu; trong khi đó, hiệu quả hoạt động giám sát tài chính lại phụ thuộc nhiều về khả năng thu thập thông tin, nhất là có được một hệ thống thông tin quản lý có khả năng cập nhật thông tin từ cơ sở đến cơ quan giám sát một cách nhanh chóng và chính xác.

Một số kiến nghị áp dụng các chỉ tiêu giám sát tài chính mô hình định lượng ở Việt Nam:

- Tăng cường hiệu lực giám sát tuân thủ, đồng thời chuyển dần sang giám sát dựa trên rủi ro thông qua việc thu hẹp các chuẩn mực trong nước với quốc tế và xây dựng và áp dụng các chỉ tiêu giám sát và ngưỡng cảnh báo an toàn vĩ mô, các mô hình định lượng và các quy chuẩn, chỉ tiêu giám sát các tập đoàn tài chính; qua đó, giảm thiểu các rủi ro toàn hệ thống và nâng cao hiệu quả giám sát toàn thị trường tài chính trong bối cảnh hội nhập kinh tế - tài chính ngày càng sâu rộng.

- Nâng cao hiệu quả và hiệu lực giám sát chuyên ngàn, đồng thời, tăng cường giám sát tài chính vĩ mô của toàn bộ hệ thống tài chính cũng như hoạt động các tập đoàn tài chính thông qua củng cố vị thế pháp lý, bổ sung nguồn lực cho Ủy ban giám sát tài chính quốc gia. Đặc biệt, cần xây dựng các chế định, tiêu chí phân loại và giám sát các tập đoàn tài chính. Cần bảo đảm nguyên tắc cơ bản là thực hiện giám sát chặt chẽ song không bóp nghẹt tính năng động, sáng tạo của thị trường tài chính.

- Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan giám sát tài chính trong giám sát toàn bộ hệ thống tài chính, kể cả các tập đoàn tài chính đa năng. Trong ngắn hạn, cần xây dựng các quy chế về quy trình, tiêu chí giám sát chung giữa các cơ quan hữu quan và quy chế xác định khung hợp tác giữa các cơ quan giám sát riêng với nhau.

- Nâng cao năng lực giám sát của hệ thống hạ tầng công nghệ giám sát và năng lực của bộ máy nhân lực giám sát thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu đầy dủ, nhất quán và áp dụng công nghệ giám sát hiện đại, và nâng cao năng lực phân tích chính sách và dự báo tài chính vĩ mô của các cán bộ giám sát. Đây là những điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực giám sát an toàn vĩ mô và giám sát dựa trên rủi ro.

- Áp dụng rộng rãi chuẩn mực quốc tế và bảo đảm hiệu lực, chế tài thực thi cao trong áp dụng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế, báo cáo tài chính quốc tế và hệ thống thống kê; xây dựng, củng cố và phát triển các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trong nước (hiện đã có ba tổ chức) có năng lực, uy tín chuyên môn cao.

Đã xem 223 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành