Thứ ba, 10 Tháng 3 2020 04:15

MỘT SỐ GÓP Ý VỀ DỰ ÁN LUẬT HỢP TÁC CÔNG TƯ – PPP

Trong bối cảnh nguồn vốn Nhà nước eo hẹp dần, vốn ODA đang có xu hướng giảm dần do tình hình dịch bệnh và lạm phát của các nước trên thế giới ngày càng gia tăng khiến cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển rất cấp bách. Việc áp dụng phương thức hợp tác công tư (PPP) cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đang được áp dụng rộng rãi, nhằm tạo thêm nguồn tiếp cận cho các nguồn vốn và thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực này.

Về bản chất, PPP là phương thức tổ chức và huy động sự tham gia của các nguồn lực tư nhân vào những hoạt động mà từ trước tới nay do Nhà nước thực hiện, vừa giúp thúc đẩy quá trình cải cách hoạt động của hệ thống Nhà nước. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rõ vấn đề, PPP không phải là chính sách xã hội hóa như đang áp dụng với một số lĩnh vực như y tế, giáo dục .v…mặc dù Xã hội hóa” và “PPP” đều có cùng mục đích là thu hút nguồn lực tư nhân vào phát triển hạ tầng, dịch vụ công nhưng PPP được thực hiện theo phương thức đầu tư với trình tự, thủ tục bài bản và cơ chế chính sách đầy đủ thì xã hội hóa chỉ là chủ trương và chính sách khuyến khích, chưa có trình tự thực hiện cụ thể và đây cũng không phải là hình thức tư nhân hóa. Mặt khác có thể nhìn nhận phương thức hợp tác công tư là một cách chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và tư nhân trong quá trình thực hiện dự án.

PPP có nhiều hình thức khác nhau nhưng có 05 hình thức phổ biến và được áp dụng rộng rãi đó là:

● Hình thức xây dựng - Chuyển giao (BT: Build – Transfer): do Nhà nước sẽ đứng ra ký hợp đồng với đối tác tư nhân để thực hiện việc thiết kế và xây dựng  công trình đáp ứng đầy đủ các yêu cầu. Khi công trình hoàn thành, Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm vận hành và bảo dưỡng công trình đó.

● Hình thức xây dựng - Cho thuê - Chuyển giao (BLT: Build – Lease – Transfer) tương tự như Xây dựng-Chuyên giao, tuy nhiên sau khi hoàn thành, công trình được giao cho Nhà nước thuê lại. Khi tiền thuê đã được thanh toán đủ công trình được chuyển giao cho phía Nhà nước mà không yêu cầu thêm chi phí nào. Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm vận hành trong thời gian thuê công trình.

● Hình thức Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (BOT: Build – Operate – Transfer) được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và Nhà đầu tư để thiết kế và xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi hoàn thành Nhà đầu tư sẽ vận hành và bảo dưỡng công trình trong một thời gian nhất định. Hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho phía Nhà nước, Nhà nước chịu trách nhiệm tiếp tục vận hành công trình.

● Hình thức Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành (BTO: Build – Transfer – Operate) được ký kết giữa Nhà đầu tư và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, Nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước nhưng nhà đầu tư vẫn giữ quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và thu lợi nhuận.

● Hình thức Xây dựng – Sở hữu – Vận hành (BOO: Build – Own - Operate) do Nhà nước nhượng quyền cho một đơn vị tư nhân cấp tài chính, xây dựng, vận hành và bảo trì một dự án. Đơn vị này có quyền sở hữu dự án trong thời gian hoạt động của dự án.

Cần phải thấy rằng, mô hình PPP, vai trò của khu vực tư nhân rất quan trọng trong quá trình thực hiện dự án, nhưng không phải là hình thức tư nhân hóa đầu tư phát triển bởi nó có những đặc điểm khác biệt dễ nhận thấy.

Thứ nhất, về trách nhiệm cung cấp dịch vụ hoàn toàn thuộc về khu vực công trong khi đó, hình thức xã hội hóa một dịch vụ cụ thể nào đó trách nhiệm hỗ trợ tài chính và cung cấp dịch vụ do tư nhân chịu trách nhiệm.

Thứ hai, trong cơ chế PPP quyền sở hữu vẫn có thể tiếp tục duy trì quyền sở hữu của Nhà nước, nếu áp dụng cơ chế tư nhân hóa thì quyền sở hữu được Nhà nước bán cho khu vực tư nhân cùng với những quyền lợi và chi phí.

Thứ ba, về bản chất dịch vụ dưới hình thức PPP sẽ do Nhà nước và tư nhân thỏa thuận quyết định thông qua hợp đồng, còn dịch vụ theo hình thức tư nhân hóa sẽ do các nhà đầu tư quyết định phạm vi và phương thức cung cấp dịch vụ.

Thứ tư, áp dụng theo hình thức PPP sẽ được chia sẻ rủi ro và lợi ích khi thực hiện dự án, trong khi nếu áp dụng theo hình thức tư nhân hóa thì các chủ đầu tư sẽ hoàn toàn chịu rủi ro thông qua hợp đồng dự án PPP.

Hợp đồng dự án PPP có sự tham gia của một bên là khu vực công và một bên là khu vực tư. Đây là quan hệ đối tác, gắn bó lâu dài, đòi hỏi sự bình đẳng giữa các bên tham gia hợp đồng. Quyền lợi, nghĩa vụ được phân bổ tương ứng với phần tham gia và rủi ro mà mỗi bên phải chịu và phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong hợp đồng. Chính vì vậy, không phải lĩnh vực nào cũng nên áp dụng PPP bởi bản thân nó cũng chứa đựng cả những lợi ích và thách thức nhất định nên cần phải phân tích về mối tương quan giữa chi phí và lợi ích đối với từng dự án, lĩnh vực cụ thể.

Về cơ bản lợi ích khi áp dụng PPP là tận dụng được những lợi thế của Nhà nước và tư nhân nhằm mục đích mang lại lợi ích cho cả Nhà nước, tư nhân và người dân sử dụng dịch vụ - sản phẩm của sự hợp tác công tư ở các mức độ như tại ra nhiều khoản đầu tư hơn cho cơ sở hạ tầng, tạo ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân; phân bố và quản lý rủi ro tốt và hiệu quả hơn; tiết kiệm chi phí; cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn thấy những rủi ro khi áp dụng hình thức PPP cho đầu tư phát triển của các nhà đầu tư như sự vỡ nợ do cung và cầu không tương xứng cùng với mức thuế sử dụng dịch vụ quá cao so với thực tế; tàn phá môi trường; sự thay đổi về tỷ giá, lãi suất, thuế tăng cao, lạm phát.v.v…

Ngoài ra còn có những rủi ro trong quá trình vận hành và bảo trì hợp đồng bị ngưng lại, những rủi ro về mặt công nghệ và lao động, những rủi ro về mặt pháp lý do những thau đổi trong hệ thống luật pháp, tình trạng vỡ nợ của nhà cung cấp dịch vụ .v.v… Các dụ án PPP hoàn toàn khác với các dự án đầu tư kinh doanh thông thường mà do tư nhân đầu tư hoặc kinh doanh theo cơ chế thị trường. Trường hợp không kêu gọi tư nhân thì Nhà nước cũng phải bỏ tiền ngân sách hoặc huy động các khoản vay ODA cho đầu tư, nghĩa là Nhà nước phải gánh vác mọi trách nhiệm, rủi ro. Đối với tài sản hình thành từ dự án PPP, Nhà nước vẫn giữ nguyên quyền quản lý, kiểm soát và thậm chí còn đặt ra những chuẩn mực, yêu cầu ràng buộc về cam kết chất lượng và dịch vụ đối với nhà cung cấp tư nhân.

Trong bối cảnh nhu cầu thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng hiện nay của Việt Nam lớn hơn nhiều so với khả năng đáp ứng của nguồn lực hiện tại, áp dụng phương thức PPP được coi là một trong những giải pháp cần được chú trọng nên cần phải hoàn thiện khung pháp lý tạo điều kiện cho các cấp có thẩm quyền đưa ra những cam kết, chính sách mang tính đột phát, thúc đẩy quá trình hình thành, ký kết và triển khai dự án PPP.

Đã xem 3 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành