Thứ tư, 11 Tháng 3 2020 08:03

GIỚI THIỆU VỀ CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH KHU VỰC TÀI CHÍNH SAU CHIẾN TRANH CỦA NHẬT BẢN

Sau chiến tranh, hệ thống tài chính của Nhật Bản đã mất một thời gian dài để chuyển từ hệ thống thời chiến sang hệ thống dựa vào thị trường, đây là một bước điều chỉnh mạnh mẽ. Hệ thống tài chính trong kỷ nguyên tăng trưởng cao (HGE), được hình thành dần dần trong sự hỗn loạn, tàn phá của chiến tranh và được xác lập vững chắc trong thời kỳ 1950-1955, cũng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ. Chỉ sau những năm 70 mới thực sự diễn ra việc chuyển sang hệ thống hướng vào thị trường thực sự[1].

Các hệ thống tài chính trong thời chiến và trong HGE có những điểm rất giống nhau như:

Thứ nhất, luồng quỹ cháy từ các đơn vị thiếu hụt sang các đơn vị dư thừa chủ yếu mang hình thức tài trợ gián tiếp khác, trung gian tài chính thông qua tiền gửi và tiếp hàng là điểm chủ chốt của hoạt động tài chính trong kỳ này.

Thứ hai, việc phân bổ các quỹ cho các ngành khác nhau ít nhiều cũng được điều chỉnh. Chính phủ can thiệp và phân bổ các khoản cho vay của ngân hàng và sự can thiệp đó có ảnh hưởng mạnh nhất trong thị trường phát hành trái phiếu công ty.

Thứ ba, hệ thống ngân hàng chủ yếu đôi lúc được xem là đặc trưng cơ cấu chủ yếu của hệ thống tài chính Nhật Bản, cũng nguồn gốc từ trong chiến tranh. Hệ thống Ngân hàng chỉ định do chính phủ lập ra vào năm 1944, có nguồn gốc từ một công - xoóc- xium cho vay xuất hiện vào khoảng năm 1936 và nó có rất nhiều nét tương đồng với hệ thống ngân hàng chủ yếu ngày nay.

Mặc dù có các nét tương đồng này, song hai hệ thống này vẫn khác nhau ở những khía cạnh quan trọng và đáng kể, dù trong cả hai thời kỳ, chính phủ đều kiểm soát việc cho vay của ngân hàng, nhưng biện pháp kiểm soát có khác nhau. Hệ thống trong thời kỳ chiến tranh dựa vào những kiểm soát trực tiếp trong khi hệ thống HGE lại áp dụng những kiểm soát gián tiếp, như hạn chế hoạt động của mỗi tổ chức tài chính vào những lĩnh vực cụ thể nào đó, sự đối xử thiên vị của Ngân hàng Nhật - (BOS) hoặc sự báo hiệu của các tổ chức tài chính thuộc khu vực công cộng. Tức là, trái với hệ thống phân bổ tín dụng tập trung trong chiến tranh, hệ thống HGE được đặc trưng bằng việc và quyết định một cách phi tập trung của mỗi tổ chức tài chính trong phạm vi một khuôn khổ đã được chính phủ quyết định là đi theohệ thống khuyến khích và báo hiệu chính thức. Một khác biệt quan trọng nữa là giữa hai hệ thống là mức độ sử dụng cơ chế giá cả của mỗi hệ thống. Ở hệ thống thời chiến, trong khi việc phân bổ tín dụng cho mỗi khu vực và công ty bị kiểm soát nghiêm ngặt, thì lãi suất (giá cả của tín dụng) về cơ bản được quyết định trên thị trường mà không chịu sự can thiệp của chính phủ. Tuy vậy, trong hệ thống HGE, chính phủ đã cố gắng kiểm soát giá cả, tức là, lãi suất. Không chỉ lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay bị kiểm soát mà cả tốc độ phát hành trái phiếu cũng bị điều chỉnh một cách chặt chẽ. Quan trọng hơn, trong hệ thống HGE, những kiểm soát đối với hành vi của mỗi tổ chức tài chính đã được tăng cường đáng kể. Ngoài những quy định về bảng cân đối thông thường, về việc lập chi nhánh và việc tham gia kinh doanh, sự can thiệp của giới quan liêu còn được mở rộng sang cả cơ cấu chi tiêu và thu nhập của mỗi tổ chức.

Ví dụ, ngân hàng phải tường trình về lương của nhân viên cho các cơ quan có thẩm quyền và sự hướng dẫn hành chính cũng được thực hiện để ảnh hưởng đến việc quyết định lãi cổ phần của mỗi ngân hàng.

Những nhân tố nào nằm đằng sau những điểm giống nhau và khác nhau này? Tại sao chiến tranh chấm dứt lại không dẫn đến việc phi điều chỉnh hoàn toàn hệ thống tài chính? Đôi khi người ta cho rằng bản chất được điều chỉnh của hệ thống tài chính HGE bắt nguồn từ tính liên tục của giới quan liêu. Các quan chức thời chiến vẫn giữ nguyên trong nhiệm sở của mình các kỹ thuật điều chỉnh. Tính liên tục này, cộng với tư duy kinh tế đề cao vai trò can thiệp của chính phủ, chắc chắn là một nhân tố quan trọng và chúng ta sẽ nói đến khía cạnh này ở phần sau của chương này. Tuy nhiên, muốn hiểu đúng những điểm giống nhau đại thể trong hai hệ thống này cần phải xem xét một cách kỹ càng hơn những đặc trưng cơ bản của bộ mặt thật của nền kinh tế. Có thể thấy rằng, chính phủ vẫn tiếp tục điều chỉnh hệ thống tài chính HGE giống như trong chiến tranh vì nền kinh tế Nhật Bản về căn bản vẫn ở một trình độ phát triển như cũ; đẩy mạnh công nghiệp hoá trên cơ sở các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất thay thế nhập khẩu - xuất khẩu khu vực hai. Có quan điểm cho rằng, nhu cầu quá mức về các nguồn quỹ dài hạn và tình trạng khan hiếm tương đối thông tin về các công ty mới, đặc trưng cho giai đoạn phát triển này, buộc chính phủ phải can dự đáng kể vào hệ thống tài chính. Vậy tại sao phương pháp kiểm soát trong hai giai đoạn lại khác nhau? Dân chủ hoá và đa dạng hoá các mục tiêu kinh tế có thể đủ để lý giải việc chuyển sang những kiếm soát gián tiếp trong hệ thống HGE. Sự thay đổi mục tiêu kiểm soát kinh tế, từ mục tiêu duy nhất là thu mua hàng quân sự sang mục tiêu đa dạng là ổn định hoá và chuyển đổi cơ cấu để phát triển, dường như đòi hỏi phải có sự thay đổi trong phương pháp phân bổ tín dụng từ sự câu kết độc đoán đến các phương pháp dân chủ hơn dựa trên sáng kiến tư nhân. Việc giải thích sự cần thiết phải kiểm soát cơ chế giá hoặc thực hiện kiểm soát chặt chẽ hơn đối với cách ứng xử của mỗi tổ chức tài chính cần được tìm trong cú sốc do thất bại trong chiến tranh. Những mất mát lớn nảy sinh từ việc đình chỉ bồi thường chiến tranh và việc cải tổ cơ cấu các tổ chức tài chính đã làm suy yếu sự kiểm soát của các cổ đông của các ngân hàng. Kinh nghiệm kiểm soát của giới quan liệu kế thừa từ trong chiến tranh và tâm lý mạnh mẽ chống lại các doanh nghiệp lớn của SCAP, và phổ biến trong xã hội đã có tác dụng đấy mạnh xu hướng thay thế một phần sự kiểm soát của các cổ đông bằng sự kiểm soát của giới quan liêu đối với các tổ chức tài chính.

Nguồn: Ngân hàng Nhật Bản, Keizai Tokei Nenpo (thống kê kinh tế hàng năm).

Chú thích và nguồn tài liệu tham khảo: Tiền gửi có thời hạn và tổng số tiền gửi là đối với tất cả các ngân hàng (Zenhoku ginko) có được từ Ngân hàng Nhật Bản, Keizai Tokei Nenpo (thống kê kinh tế hàng năm). Giá trị thuần và tổng tài sản của các hãng kinh doanh lớn có được từ Shupo Kigyo Jiguo Seiseki Bunsenki của Viện nghiên cứu kinh tế Mitsubishi trừ năm 1945, 1946, 1965, 1975. Các số liệu của các năm 1945 và 1946 là từ Okura-sho (Bộ tài chính) ShowaZaisei-shi lịch sử tài chính thời kỳ Chiêu hóa tập 13, trang 754-755 và các số liệu của các năm 1965 và 1975 là từ Ngân hàng Nhật Bản, suya Kigyo Keiei Bulseki TSPQD là từ Kazushi OhkaWà và Miyokei shinohara (1979), Các mô hình phát triển kinh tế Nhật Bản (New Haven: Nxb Đại học Yale) và chỉ số giảm phát TSPQD từ Lịch sử 100 năm Ngân hàng Nhật Bản (thống kê). Các số liệu là của cuối năm hoặc mức trung bình hàng năm trừ cột thứ hai là số liệu vào cuối nửa đầu của năm tài chính.

 

        (Để xem toàn bộ bảng biểu số liệu, xin tải tệp đính kèm)


[1] Teranishi, 1993

Đã xem 11 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành