Thứ ba, 10 Tháng 3 2020 08:33

GIỚI THIỆU VỀ THỂ THỨC CHUYỂN VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THEO LUẬT KINH TẾ CÔNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

Về thực chất, đây là vấn đề bán - mua các dự phần góp vốn, bán tiếp các doanh nghiệp đã được bán. Với việc bán - mua các dự phần góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH), các tài sản được bán - mua sẽ thay đổi sở hữu chủ, các khoản nợ cũng đồng thời được chuyển giao, việc chuyển nhượng các cổ phần thông qua việc bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán không được bàn đến ở bài này, trong khuôn khổ bài này chỉ tập trung giải quyết các vấn đề thuộc công ty TNHH.

Việc chuyển nhượng tài sản liên doanh đến doanh nghiệp bị bán và chuyển nhượng các khoản nợ của doanh nghiệp bị bán cũng như các dự phầncủa doanh nghiệp (công ty TNHH) phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng cụ thể về vấn đề nêu trên. Hợp đồng chuyển nhượng loại đó thường có các mục sau:

Đối tượng của hợp đồng - Phải ghi rõ trong hợp đồng cái gì ở đây được bán. Các tài sản, thiết bị, máy móc... được bán phải ghi rõ, cụ thể số lượng, mẫu mã, mô tả chi tiết v.v... Ví dụ, A và B thỏa thuận bán và mua một nhà máy sản xuất nước giải khát. Họ phải thỏa thuận A bán và chuyển giao đối tượng mà B thỏa thuận mua và nhận ở đây cần khái niệm bán chuyển giao v.v .. có phức tạp và cần phân biệt rõ ràng. Trên thực tế có khác nhau về việc bán, chuyển giao vật được bán và chuyển quyền sở hữu vật được bán. Sách báo có giải thích và bình luận về những vấn đó này ở đây có các quá trình khác nhau. Căn cứ pháp luật hiện hành, người mua và người bán phải thỏa thuận với nhau (bằng văn bản) về tài sản được mua và bán đó, người bán có nghĩa vụ chuyển giao tài sản đã bán cho người mua và sau đó phải chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho người mua theo quy định của pháp luật. Đây là hợp đồng mua - bán có quy mô lớn do đó thời điểm bán (ký hợp đồng mua - bán) và thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản có khác nhau. Ở đây có hai vấn đề quan trọng đặt ra đối với người bán là nghĩa vụ chuyển giao tài sản đã bán và nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản đã bán.

Về nguyên tắc, có sự thống nhất ý chí của các bên hợp đồng chuyển giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản. Tuy vậy hai quá trình này (chuyển giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản) trên thực tế không trùng hợp nhau mà có khoảng cách nhất định. Vấn đề này đặc biệt quan trọng khi thực hiện hợp đồng mua - bán các thiết bị toàn bộ trong một thời hạn tương đối dài. Hoạt động kinh doanh rất năng động, do đó trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể phát sinh các vấn đề buộc các bên phải đàm phán để đi đến thỏa thuận tiếp trước khi chuyển quyền sở hữu.

Người mua phải tuyên bố rõ ràng, là sẽ tiếp nhận các nghĩa vụ, công việc mà người bán đã thực hiện cho người mua. Các đối tượng mua - bán theo hợp đồng phải định rõ và có cách thức rõ ràng để phân biệt với các đối tượng, tài sản, đồ vật khác đang được sử dụng trong doanh nghiệp, kể cả những vật có giá trị rất nhỏ. Vậy tài sản nào nhất thiết phải nêu ra ở đây? Trước tiên là các máy móc, thiết bị tương tự. Người bán sẽ thỏa thuận là bán cho người mua những máy móc, thiết bị đang được sử dụng pho đến thời điểm mua và cả những phụ kiện rời, những chi tiết máy v.v... Phải ghi rõ những thiết bị, phụ kiện nào không được bán, hoặc những cái nào thì không bán mặc dù có liên quan đến máy móc phải bán. Danh mục những tài sản có trong doanh nghiệp mới là đối tượng xem xét để mua bán theo hợp đồng loại này. Đối với hợp đồng leasing thì những vật ở ngoài doanh nghiệp cũng có thể được ghi vào danh mục những vật được bán. nếu chúng thuộc quyền sở hữu của người bán (hoặc chủ doanh nghiệp). Đối với các tài sản thuộc quyền sở hữu của người thứ ba nhưng chủ doanh nghiệp đang sử dụng tại doanh nghiệp thì không phải là đối tượng của hợp đồng mua - bán này nếu chủ sở hữu vật đó không chấp thuận hoặc không yêu cầu bán. Các tài sản không phải là đối tượng mua bán của hợp đồng phải được đưa vào danh mục những tài sản không bán đính kèm hợp đồng chính.

Đối với vấn đề xác đnh giả trị những vật được bán: Đương nhiên là các bên tìm mọi cách để thống nhất giá cả những vật được bán. Tuy nhiên, các bên có thể ghi vào hợp đồng các trường hợp cần phải trưng cầu giám định viên hoặc chuyên gia kiểm toán đến định giá tài sản sẽ bán. Những tài sản khác cần chuyển giao cũng có thể được định giá trị theo những thể thức nhất định.

Đối với các hàng hóa, đồ dùng dự trữ: Theo quy định chung, vào ngày hợp đồng bắt đầu được thực hiện thì người bán phải chuyển giao (trong một thời hạn do hai bên thỏa thuận) các tài sản, sản phẩm, đồ vật v.v... theo hợp đồng. Các bên có thể thỏa thuận bán và chuyên gia các đồ vật. hàng hóa dự trữ của doanh nghiệp. Muốn vậy, người mua phải biết đến một thời điểm nào đó thì có những tài sản dự trữ gì, chúng ở đâu và vào trạng thái ra sao? v.v... Nếu các vật đó đang ở người khác thì hợp đồng phải ghi rõ người bán có nghĩa vụ đòi lại những vật này từ người đang giữ để chuyển giao chúng cho người mua hoặc ghi rõ giao quyền này cho người mua thực hiện. Phải lập danh sách các hàng hóa, đồ vật dự trữ này và người bán phải giao danh sách đó cho người mua vào ngày giao tài sản được bán (chỉ ghi các động sản). Danh sách này sẽ trở thành phụ lục của hợp đồng chính. Tài sản được đưa vào danh sách phải được định giá vào thời điểm lập danh sách (phải ghi rõ ngày định giá, lập danh sách) theo kết luận của giám định viên hoặc chuyên gia kiểm toán. Người mua hoặc người đại diện của người mua phải được xem xét các cơ sở của doanh nghiệp, kho tàng giữ tài sản được bán, sổ sách kế toán và các tài liệu cần thiết liên quan đến vật bán. Hai bên phải cùng nhau kiểm kê đồ vật này và lập biên bản kiểm kê cụ thể để khỏi phiền toái về sau (kiện tụng).

Đối với các quyền sở hữu công nghiệp: Nếu người bán có bí quyết kinh doanh, bí mật công nghệ, phát minh sáng chế v.v... (được coi là các tài sản phi vật chất) thì các quyền sở hữu những tài sản này cũng phải chuyển giao và ghi rõ vào hợp đồng, vì chúng cũng là một phần trong tài sản của doanh nghiệp được bán. Nói chung, vấn đề này phải giải quyết theo nguyên tắc bào vệ quyền sở hữu công nghiệp.

Về chương trình (kế hoạch) sản xuất: Các quy trình sản xuất, kế hoạch công tác, sản xuất của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và cần phải chuyển giao cho người mua. Các sổ sách, tài liệu về bí mật kinh doanh, danh mục giá cả, địa chỉ liên lạc với các bạn hàng v.v... đều phải chuyển giao cho người mua. Điều này phải ghi vào hợp đồng mua bán doanh nghiệp.

Trong quan hệ với bạn hàng: Người mua có nghĩa vụ tiếp nhận các đơn đặt hàng mà người bán đã chấp thuận với bạn hàng trước khi bán doanh nghiệp, tiếp nhận các công việc đang làm cho bạn hàng. Tuy vậy, việc tiếp nhận này phải là đối tượng của một bản thỏa thuận giữa người mua và bạn hàng. Việc chuyển giao các vấn đề liên quan với bạn hàng từ người bán hàng sang người mua hàng chỉ được thực hiện khi bạn hàng chấp thuận bằng một văn bản rõ ràng hợp pháp.

Về vấn đề các yêu cầu, các khoản nợ và những vấn đề liên quan: Người bán có nghĩa vụ thanh toán mọi khoản nợ còn tồn đọng của doanh nghiệp trước khi bán doanh nghiệp. Ví dụ: hàng đã bán nhưng chưa thanh toán. Xử lý vấn đề này ra sao? Cần phải biết rõ ai phải chịu trách nhiệm về vấn đề này Về nguyên tắc, người bán muốn nhận khoản thanh toán này. Vấn đề là các bên đương sự phải thỏa thuận với nhau về việc đó. Nếu cần thì ghi rõ vào hợp đồng.

Vấn đề chuyển giao đất đai: trong hợp đồng phải ghi rõ người bán vào thời điểm ký kết hợp đồng sẽ chuyển giao mảnh đất có doanh nghiệp như đã yêu cầu. Đất đai là đối tượng mua - bán phức tạp nên cần chú ý thỏa thuận cụ thể và mua - bán phải theo những hình thức pháp lý nhất định. Công việc này thường được tiến hành với sự giúp đỡ hoặc chứng giám của công chứng viên. Phải có một bản phụ lục về đất đai và các biện pháp chuyển giao quyền sở hữu đất đai. Trong bản phụ lục đó cần chú ý ghi rõ các mốc địa giới, các bản sơ đồ hiện trường, các giấy tờ liên quan và các nghĩa vụ các bên liên quan đến đất đai và bảo vệ môi trường.

Vấn đề giấy tờ bảo đảm việc mua - bán đất đai: Điều quan trọng ở đây là phải có văn bản bảo đảm người bán chính là chủ sở hữu mảnh đất được đưa ra bán theo pháp luật và người bán bảo đảm chịu mọi trách nhiệm phát sinh từ những sai sót do mình gây nên trong cách tính chuyển quyền sở hữu đất đai.

Đối với người làm thuê: Trước đây, vào thời phong kiến, không ai chu ý đến các quyền và lợi ich của giới thợ khi có vấn đề mua báo doanh nghiệp. Từ khi chuyển sang chế độ TBCN vấn đề này dù thay đổi cơ bản. Điều 613 BLDS có quy định rõ nếu doanh nghiệp bị bán thì các hợp đồng của chủ doanh nghiêp với người làm công phải được chú ý đến. Các quy định ở đây có nội dung tương tự như trường hợp thuê nhà, tức khi chuyển chủ sở hữu nhà thì phải chú ý đến các quyền của người thuê nhà và chủ mới phải thừa kế các hợp đồng thuê nhà. Do vậy, đối với chủ mới của doanh nghiệp, người mua phải kế thừa các quyền và nghĩa vụ theo các hợp đồng thuê lao động. Phải có một bản phụ lục các hợp đồng lao động nói rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng thuê lao động. Bên mua và bên bán cần thỏa thuận thông báo cho người làm công việc chuyển giao doanh nghiệp cho chủ mới và quyền của người làm công được thể hiện bàng văn bản sự chấp thuận (hoặc không chấp thuận) duy trì quan hệ lao động tiếp tục với chủ mới.

Vấn đề xử lý đối với các hợp đồng lao động tập thể. Các hợp đồng lao động tập thể cũng được chuyển giao. Ví dụ: hợp đồng ký giữa Hội đồng xí nghiệp với giới làm công. Trong số các hợp đồng của doanh nghiệp có thể có hợp đồng liên quan đến các vấn đề phúc lợi xã hội, đến bảo hiếm lao động v.v... Các hợp đồng, thỏa thuận đó phải được quan tâm đúng mức và phải được chuyển giao đúng quy cách.

Đối với vấn đề cạnh tranh và bảo đảm bí mật kinh doanh: Về nguyên tắc, người bán không được mở một doanh nghiệp tương tự doanh nghiệp đã bán ngay sau khi ký hợp đồng mua - bán doanh nghiệp hoặc không được tiết lộ các bí mật kinh doanh của doanh nghiệp đã bán để cạnh tranh với chủ mới của doanh nghiệp v.v.. Tất cả những vấn đề này phải được hai bên thỏa thuận chi tiết và đưa vào văn bản hợp đồng để sau này đỡ phát sịnh các tranh chấp phiền toái trong hoạt động kinh doanh.

Vấn đề giá cả và thanh toán: Giá cả bán mua doanh nghiệp phải được thỏa thuận và quy định rõ trong hợp đồng bằng con sổ cụ thể. Nếu bên mua trả tiền từng phần trong một thời gian nhất định, thi phải trả thêm lợi tức là bao nhiêu? Theo nguyên tắc như thế nào? Nếu cần thiết thì ghi cả vấn đề thuế lợi tức phải trả. Cách thức tính giá cả thanh toán và các vấn đề tài chính khác cũng tương tự như hợp đồng đã trình bày trên.

Vấn đề phí tổn: Phải định rõ ai chịu phí tổn liên quan đến hợp đồng. Đăng ký tại đâu và ra sao.

Cuối cùng là vấn đề hiệu lực của hợp đồng. Cũng theo các quy tắc chung đối với các hợp đồng mua - bán lớn. Một quy định của hợp đồng không có hiệu lực thì các quy định khác vẫn có hiệu lực thi hành, hợp đồng vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý của nó.

Đã xem 8 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành