Thứ hai, 23 Tháng 3 2020 08:34

KINH NGHIỆM XÂY DỰNG LUẬT THƯƠNG MẠI CỦA ĐỨC

1. Quan niệm về luật thương mại

Có những quan điểm khác nhau nhưng nói chung đều hướng vào phân biệt Luật thương mại và Luật dân sự, Luật thương mại và Luật kinh doanh hiện đại. Trong thực tế ở một số nước (như Ý, Hà Lan) không còn thấy sự phân tách này nữa, Luật thương mại bị nhập vào Luật dân sự; còn ở một số nước khác (như Pháp) lại có xu hướng mở rộng đối tượng điều chình của Luật thương mại để thay vào đó khái niệm Luật kinh doanh. Bên cạnh những xu hướng này cũng tồn tại một thực tế khác là ở nhiều nước áp dụng song hành hai hệ thống luật: Luật dân sự và Luật thương mại với phạm vi và đối tượng điều chình khác nhau.

Để giúp hiểu bản chất Luật thương mại của Đức, cần xem xét bốn nhân tố sau:

Thứ nhất, về điều kiện lịch sử.

Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, ở các nước châu Âu xuất hiện một tầng lớp xã hội mới: các thương gia. Lực lượng các thương gia phát triển ngày cầng đông đảo dẫn đến việc Nhà nước cần thiết phải ban hành các luật lệ để điều chình các hoạt động của họ và quan hệ giữa họ với nhau. Do vậy, Luật thương mại ra đời được coi là luật của các thương gia. Một điều cần chú ý là, trước khi có các bộ luật thương mại hoàn chình, giữa các thương gia đã tồn tại các tập quán thương mại; các tập quán đó tồn tại và phát triển cho đến ngày nay.

Về cơ bản, Luật thương mại được hình thành trên nền tảng của Luật dân sự. Tuy nhiên, ở Đức, hai Bộ luật lớn là Bộ dân luật (BGB) năm 1896 và Bộ luật thương mại (HGB) năm 1897 được ban hành gần như đồng thời.

Thứ hai, về điều kiện về khách thể.

Các thương gia trong hoạt động của mình thực hiện một nghề nghiệp nhất định - nghề thương mại. Đó là một nghề chuyên biệt gắn với những điều kiện và những kết quả pháp lý riêng biệt.

Thứ ba, về điều kiện về tổ chức.

Hoạt động thương mại được tiến hành trong những mô hình về tổ chức nhất định, trong đó thương gia đóng vai trò trung tâm trong các mối quan hệ hợp đồng. Mối quan hệ này cũng gắn với kết quả pháp lý riêng biệt của nó.

Thứ tư, về hành vi pháp lý.

Các hành vi của thương gia phải có tính kinh doanh và không ở trong khuôn khổ Luật dân sự. Do tính chất đặc biệt này của nó, nên pháp luật quy định đó là hành vi thương mại (để phân biệt với hành vi dân sự). Điểm đặc trưng nhất cho hành vi thương mại là các tác nghiệp ngân hàng.

2. Hoạt động thương mại gắn với kết quả pháp lý

Hoạt động nói chung của công dân, tổ chức luôn gắn với kết quả pháp lý nhất định. Các kết quả pháp lý theo quy định của Luật thương mại Đức cũng gắn với 5 kết quả pháp lý cụ thể, trong đó bốn kết quả đầu được coi là đặc biệt quan trọng.

Thứ nhất, Luật thương mại Đức coi thương gia là một chủ thể pháp luật dưới tên một hãng nào đó. Tuy nhiên đó chưa phải là dấu hiệu pháp lý quyết định để phân biệt tổ chức thương mại này với các chế định khác của tư pháp, vì trong đó thương gia vẫn đứng danh của mình. Trường hợp khác, đó là các công ty đối vốn, ví dụ công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. Đối với các công ty này luật đòi hỏi phải có tên riêng của nó.

Trường hợp thứ nhất, hãng vẫn mang tên gọi của cá nhân thương gia. Tuy nhiên qua quá trình hoạt động thương mại, tên hãng có được một ý nghĩa khác, gắn với uy tín của thương gia và tên hãng có một giá trị kinh tế nhất định. Luật thương mại cho phép thừa kế hoặc mua bán quyền sở hữu đối với tên gọi các cửa hiệu hoặc hãng của thương gia. Hiện tượng này đã trở thành phổ biến đối với các hãng nổi tiếng lâu đời của tư nhân.

Thứ hai, phải đăng ký tên doanh nghiệp vào danh bạ thương mại, đây là một trong những chế định đặc biệt của Luật thương mại Đức so với các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển. Việc đăng ký vào danh bạ thương mại đối với các thương gia xuất hiện ở Pháp từ thế kỷ 17 (1673), sau đó phổ biến rộng rãi ở các nước châu Âu. Ở Đức, các Tòa án bang đều có danh bạ này. Ở Mỹ không có danh bạ thương mại chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp mà chỉ có danh bạ thương mại riêng cho công ty đối vốn.

Việc đăng ký vào danh bạ thương mại có hai ý nghĩa chính:

Một về ý nghĩa thông tin. Thông qua việc đăng ký, các doanh nghiệp công bố rộng rãi trong công chúng về việc thành lập, mục đích, tình hình tài chính và mọi mặt hoạt động của mình. Mọi người đều có quyền xem danh bạ thương mại để tìm hiểu các thông tin về một doanh nghiệp nào đó. Trong điều kiện hiện nay, các công ty lớn còn sử dụng hệ thống quảng cáo và các hình thứcthông tin khác để công bố về tình hình hoạt động của mình.

Hai về ý nghĩa pháp lý. Việc đăng ký tên doanh nghiệp vào danh bạ thương mại là một bước quan trọng để thực hiện việc bảo đảm pháp lý đối với doanh nghiệp tại các cơ quan tài phán. Tòa án Đức, trước khi đăng ký một doanh nghiệp vào danh bạ thương mại, phải tiến hành các thủ tục kiểm tra chặt chẽ về mặt pháp lý đối với việc thành lập doanh nghiệp đó. Việc đăng ký vào danh bạ thương mại đối với một số loại hình công ty (ví dụ các công ty đối vốn) là điều kiện pháp lý cần thiết để công nhận doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.

Thứ ba, chế độ kế toán thống kê và báo cáo tài chính.

Mọi thương gia có nghĩa vụ ghi chép liên tục quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Hàng năm các doanh nghiệp phải tổng kết hoạt động trong một bảng cân đối và các báo cáo tài chính. Bảng cân đối bao gồm hai phần: phần có và phần nợ. Thông qua bảng này thương gia có thể đánh giá được kết quả kinh doanh của mình. Đối với công ty cổ phần, đó cũng là một nguồn thông tin cho việc mua bán cổ phần tại thị trường chứng khoán.

Ngoài ra, các báo cáo tài chính còn là một căn cứ cho việc kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước.

Thứ tư, tuân theo những quy định pháp lý chuyên biệt của luật thương mại.

Ở đây có thể thấy sự khác nhau giữa Luật dân sự và Luật thương mại. Chẳng hạn trong lĩnh vực hợp đồng, thương gia phải tuân theo các quy định chung của luật hợp đồng dân sự, đồng thời còn phải thực hiện những điều kiện riêng của luật thương mại. Trong hợp đồng mua bán dân sự, thời hiệu khiếu nại vi phạm hợp đồng là sáu tháng, còn trong hợp đồng thương mại thời hiệu này dài hơn. Trong hợp đồng mua bán ngoài nghĩa vụ dân sự các thương gia còn phải thực hiện các quy định riêng về bảo hộ quyền lợi của người tiêu dùng.

Ở các lĩnh vực khác pháp luật đều có những chế định riêng dành cho thương gia.

Thứ năm, được áp dụng các hình thức ủy quyền đặc biệt.

Chế định ủy quyền theo luật thương mại rộng hơn, tổng quát hơn ủy quyền theo luật dân sự. Điều đó xuất phát từ thực tiễn các thương gia ngày cầng ít có điều kiện trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh, mà thường ủy quyền cho người khác tiến hành hoạt động đó. Ngày nay người ta áp dụng phổ biến hình thức ủy nhiệm toàn quyền hoặc ở mức cao hơn là đại diện thương mại.

3. Tiêu chuẩn thương gia

Bộ luật thương mại Đức định nghĩa cụ thể thế nào là một thương gia và quy định những trường hợp nào được coi là có tư cách thương gia. Nói chung, pháp luật Đức quy định chi tiết về sáu nhóm thương gia và các tiêu chuẩn cụ thể của từng nhóm đó.

Đối với những người làm dịch vụ cho người khác, các dịch vụ này do họ đặt ra hoặc hoạt động nghề nghiệp thường xuyên, hoặc các dịch vụ thanh toán phải có tiền thì được Luật thương mại quy định thuộc diện thương gia đương nhiên. Như vậy, nếu có một người thường xuyên mua - bán để thu lợi nhuận thì đó là những người hành nghề thương mại. Luật quy định các nghề như sau được coi là nghề thương mại: sản xuất mua hàng để bán lại; dịch vụ chế biến, bảo hiểm; dịch vụ ngân hàng và hối đoái; dịch vụ vận chuyển, đại lý, kho tàng; đại diện và môi giới thương mại; dịch vụ in ấn, xuất bản...

Đặc điểm chung là những người này phải hành nghề thương mại như một nghề nghiệp chính và gắn với mục đích thu lợi nhuận, Tuy nhiên, có một số hoạt động dịch vụ thu tiền không được coi là thương mại mà phải coi là các nghề tự do, như luật sư, bác sĩ, kiểm toán.... Có thể giải thích lý do ở tính chất đặc biệt của các nghề này.

Đối với những người hành nghề thương mại, họ luôn luôn là thương gia (thương gia đương nhiên) không phụ thuộc vào việc có đăng ký vào danh bạ thương mại hay không.

Trường hợp các thương gia là những người làm các nghề giống với các nghề thương mại. Theo định nghĩa của luật, họ không phải là thương gia đương nhiên. Tuy nhiên, phụ thuộc vào tính chất và quy mô của hoạt động, họ phải thỏa mãn hai điều kiện sau:

Một, hoạt động phải có cơ sở nhất định (trụ sở giao dịch, cửa hiệu);

Hai, hoạt động phải được đăng ký vào danh bạ thương mại. Và do vậy họ cũng được coi là thương gia.

Hoặc đối với những người kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp (ví dụ trồng trọt, chăn nuôi có bán sản phẩm, khai thác gỗ để bán) cũng có thể trở thành thương gia nếu họ đăng ký hoạt động của mình vào danh bạ thương mại.

Ngoài ra, Luật Thương mại của Đức còn quy định tiêu chuẩn thương gia đối với những trường hợp khuyết tư cách, thương gia đăng ký hoặc thương gia hình thức.

Đối với thương gia khuyết tư cách, thường là những thương gia nhỏ (tiểu thương), do tính chất và quy mô hoạt động, họ không bắt buộc phải thực hiện mọi nghĩa vụ của một thương gia; chẳng hạn không đăng ký tên vào danh bạ thương mại, không buộc phải ghi chép sổ sách kế toán, không phải có cửa hiệu riêng... nhưng phải tuân theo các quy định của Luật thương mại.

Đối với thương gia đăng ký, cần được hiểu theo quy định của Luật thương mại Đức thì họ không phải là thương gia, tuy nhiên do có đăng ký doanh nghiệp vào danh bạ thương mại, họ được đối xử như thương gia.

Theo giải thích của Tòa án, trường hợp này áp dụng cả đối với những thương gia, tuy đã chấm dứt hành nghề nhưng chưa xóa tên khỏi danh bạ thương mại. Họ vẫn phải chịu trách nhiệm như một thương gia.

Đối với thương gia hình thức theo quy định của Luật thương mại, thường áp dụng đối với các công ty thương mại. Theo luật định, mọi doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình công ty thương mại nhất định được coi là "thương gia". Chẳng hạn, Bộ luật thương mại Đức quy định các công ty hợp doanh, công ty hợp vốn, công ty vô danh... là công ty thương mại.

Nhận xét chung: Luật của Đức quy định về cơ cấu thương gia khá cụ thể, chi tiết. Quy định như vậy có phần nào quá phức tạp so với Luật các nước khác. Tuy vậy, trong thực tế "thương gia" ở Đức thực chất chỉ là những doanh nghiệp tương đối lớn. Các doanh nghiệp nhỏ nói chung được tự do hoạt động, ít bị ràng buộc bởi các quy định của quy chế thương gia.

Có thể khái quát những ý đã trình bày bằng bảng tóm tắt sau:

           Quy mô doanh nghiệp

Đốitượng

hoạt động

Cơ sở kinh doanh lớn

Cơ sở kinh doanh nhỏ
Kinh doanh thương mại Thương gia đương nhiên Tiểu thương
Các loại kinh doanh khác Thương giacó điều kiên Không phải thương gia

Các tài liệu tham khảo:

1. Luật Thương mại, Luật Dân sự các nước Ý, Hà Lan, Pháp.

2. Bộ Dân luật (BGB), Bộ luật thương mại (HGB) Đức.

Đã xem 121 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành