Thứ sáu, 22 Tháng 5 2020 08:47

GIỚI THIỆU MỘT SỐ YẾU TỐ CƠ BẢN THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHẬT BẢN

1. Một nền kinh tế trưởng thành không có thất nghiệp

Một trong những đoạn quan trọng trong tác phẩm "Lý thuyết chung" của Keynes là "nghịch lý đói nghèo trong lòng sự thừa thãi", có ý ám chỉ sự chênh lệch giữa tổng sản phẩm nội địa (TSPNĐ) thực tế và tiềm tàng:

“Cộng đồng càng giàu, thì sự chênh lệch giữa sản xuất thực và sản xuất tiềm tàng của nó càng lớn. Một cộng đồng giàu mạnh sẽ phải phát hiện ra những cơ hội đầu tư lớn hơn nêu xu hướng tiết kiệm của người giàu phù hợp với việc làm của người nghèo. Nếu trong một cộng đồng hết sức giàu có động lực thúc đẩy đầu tư yếu thì, bất chấp sự giàu có tiềm tàng của nó, hoạt động của nguyên tắc cầu hiệu quả sẽ buộc nó phải giảm sản lượng thực tế của nó cho đến khi, bất chấp sự giàu có tiềm tàng của nó, nó đã thu hẹp chỉ đủ để phù hợp với sự yếu ớt của động lực thúc đẩy đầu tư".

Nhật Bản đã có một nền kinh tế trưởng thành, theo tỷ lệ thu nhập của kinh doanh so với sự bồi hoàn cho nhân viên đã liên tục giảm từ năm 1973. Tốc độ tăng trưởng TSPQD, việc cung cấp các nhân tố và năng suất các nhân tố từ năm 1980 đến 1985 thấp hơn nhiều so với những năm trước. Những thực tế này là bằng chứng cho thấy rằng nền kinh tế Nhật Bản đã trưởng thành từ giữa những năm 70, khi kỷ nguyên tăng trưởng nhanh đã trôi qua ở Nhật cũng như ở các nền kinh tế tiên tiến khác.

Một hiện tượng thú vị khác là sự gia tăng nhanh chóng trong xu hướng tiết kiệm, về danh nghĩa nền kinh tế Nhật Bản đã mở rộng giá trị của các tài sản tài chính và chứng khoán và đất trong suốt những năm 80 chứ không phải là giá trị của những tài sản tư bản thuần và nhà ở. Tuy nhiên, việc tiết kiệm quá mức hiện nay của Nhật Bản không cho thấy sự yếu kém trong việc thúc đẩy đầu tư, vì trong những năm 80 (và đầu thập kỷ 90) tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản thấp hơn nhiều so với ở bất kỳ nền kinh tế phát triển hay trưởng thành nào khác.

Vậy tại sao Nhật Bản vẫn giữ được xu hướng tiết kiệm quá mức như vậy? Đương nhiên, một trong những nguyên nhân chính nằm trong bản chất của một nền kinh tế do "xuất khẩu lôi kéo". Nền kinh tế Nhật Bản đã tìm được cách duy trì được tốc độ tăng trưởng cao ngay cả trong thời kỳ đồng yên lên giá sau Hiệp ước Plaza tháng 9/1985, chuyển cơ cấu của mình từ chỗ lấy xuất khẩu làm động lực và kèm theo đó là đẩu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ.

2. Sự phụ thuộc mạnh vào thị trường Mỹ:

Nửa đầu thập kỷ 80, Nhật Bản có một cơ cấu kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu chứ không dựa vào tiêu dùng trong nước, ngược hẳn với Mỹ. Trong 5 năm từ năm 1982 tới 1986 năng suất lao động trong ngành chế tạo Nhật Bản đã tăng nhanh so với của Mỹ. Trong cùng thời kỳ này, thặng dư cán cân mậu dịch của Nhật đã tăng lên còn Mỹ bị thâm hụt nặng. Tỷ trọng xuất khẩu của Nhật sang thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng với tốc độ đáng ngạc nhiên tới 14 %, từ 25% năm 1980 lên 39% năm 1986.

Sự khác biệt giữa Nhật và Mỹ tồn tại về cả mặt chi tiêu của chính phủ lẫn tiết kiệm của cá nhân. Nước Mỹ đã bị thâm hụt nặng trong tài chính công cộng, còn tiết kiệm của cá nhân thì quá nhỏ và bị thâm hụt mậu dịch khổng lồ. Nói cách khác, Mỹ đã mở rộng thị trường nội địa của mình dưới hình thức chi tiêu chính phủ cũng như tiêu dùng cá nhân.

Tỷ trọng tiêu dùng quá mức trong TSPNĐ ở Mỹ là có thể chấp nhận được nhờ cái gọi là hệ thống bản vị đôla quốc tế. Chừng nào đồng đôla Mỹ còn hoạt động như đồng tiền chính được sử dụng làm đồng tiền trao đổi trên các thị trường trao đổi liên ngân hàng quốc tế (Swoboda 1968) và được các cường quốc kinh tế, ngoại trừ Mỹ, giữ làm dự trữ, thì thâm hụt đối ngoại của Mỹ đương nhiên sẽ tồn tại. Thặng dư đối ngoại của các nước khác lại quay trở lại Mỹ với tư cách tư bản tư nhân và/hoặc trao đổi đồng đô chính thức. Ví dụ, khi tình trạng chảy máu tư bản xảy ra ở Mỹ sau khi đồng đô đột ngột mất giá do khủng hoảng thị trường chứng khoán trên quy mô toàn thế giới tháng 10/1987, thì tiền chính thức (dự trữ đối ngoại) từ các nước có đồng tiền đang lên giá như Nhật Bản và Đức lại đổ vào thay thế. Tình hình này đã khiến nưóc Mỹ có thể tiêu dùng lớn hơn TSPNĐ của nó.

Mặt khác, cho đến giữa thập kỷ 80, Nhật Bản đã luôn tăng cường cơ cấu dựa vào xuất khẩu của mình bằng cách sử dụng năng suất ngày càng cao để hạ giá thành thay vì tăng nhu cầu trong nước. Cùng với việc giảm tương đối trong chi tiêu của chính phủ, điều này đã làm cho tỷ lệ tiết kiệm so với nhu cầu nội địa tăng lên. Số tiết kiệm trội ra được dùng chủ yếu tăng nhanh giá trị (danh nghĩa) của các tài sản tài chính và bất động sản trong nước và tăng đầu tư nước ngoài của Nhật Bản, đặc biệt là đầu tư gián tiếp.

3. Tăng trưởng lấy cầu nội địa làm động lực và FDI: Sau Thoả ước Plaza

Tháng 9/1985 các Bộ trưởng tài chính trong nhóm G5 (Mỹ, Nhật, Tây Đức, Anh và Pháp) đã chấp thuận giảm giá đồng đôla đặc biệt so với đồng yên Nhật và đồng mác Đức để đẩy mạnh tính cạnh tranh của Mỹ và giảm thâm hụt trong cán cân hiện hành của nước này. Đây được gọi là Thoả ước Plaza.

Từ giữa thập kỷ 80, mâu thuẫn kinh tế giữa Mỹ với Tây Âu và Nhật Bản lại bùng lên. Mỹ vẫn khăng khăng giữ quyền đơn phương chống lại "những trở ngại đối với hàng xuất khẩu của Mỹ" theo Điều 301 Luật Mậu dịch năm 1974; điều luật này cho phép tổng thống Mỹ có quyền đơn phương trả đũa các thực tế của nước ngoài được coi là phương hại đến những quyền lợi thương mại của Mỹ. Các thủ tục và những sửa đổi thường xuyên Điều luật 301 đã biến nó thành "siêu 301" nhờ Bộ luật Mậu dịch và Cạnh tranh gồm nhiều mục năm 1988 (Luật Mậu dịch 1988). Nhật Bản buộc phải có những hạn chế tự nguyện đối với các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh như ôtô, máy ghi hình, chất bán dẫn...

Bên cạnh đó, các cuộc đàm phán Giải quyết Các Trở ngại về Cơ cấu (SII) giữa Mỹ và Nhật đã được tiến hành vào năm 1989 nhằm giải quyết các vấn đề cơ cấu ở Nhật Bản vốn là những trở ngại đối với mậu dịch và điều chỉnh cán cân thanh toán nằm ngoài khuôn khổ Điều 301 của Luật Mậu dịch của Mỹ. Nhờ SII, Nhật Bản đã tìm những chính sách phù hợp hơn để duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững lấy nhu cầu trong nước mạnh làm động lực, đặc biệt để thúc đẩy tích luỹ tổng vốn xã hội[1].

Do thu nhập tăng và những biến động trong tỷ giá hối đoái, chi phí lao động ở Nhật đã xích gần hay hầu như là ngang với ở Mỹ. Hơn nữa, từ năm 1988 các vấn đề “thiếu lao động” được đề cập tới một cách nghiêm chỉnh hơn. Theo “Khảo cứu Kinh tế ngắn hạn ở tất cả các doanh nghiệp” của Ngân hàng Nhật Bản, chỉ số phổ biến sự phán xét của nhân viên[2] cho thấy thực trạng trong khu vực sản xuất cũng như phi sản xuất là thiếu lao động vào tháng 2/1988 (Cục Kế hoạch Kinh tế 1990).

Theo Cục Kế hoạch Kinh tế Nhật Bản (EPA), cơ quan từng tiến hành điều tra khu vực chế tạo năm 1990, hơn 40% số công ty trả lời đã coi việc đa dạng hoá sản xuất hoặc tham gia các ngành hay dạng chế tạo khác, việc phát triển các mặt hàng mới, các hoạt động nghiên cứu và phát triển và nhu cầu lao động bình thường trong thời kỳ phồn vinh kinh tế là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu lao động. Điều này cho thấy khu vực chế tạo của Nhật đã trở nên tinh vi hơn.

Trong hoàn cảnh đang thay đổi trước việc đồng yên lên giá, sự xung đột về kinh tế và thiếu lao động, kể cả chi phí lao động gia tăng, Nhật Bản đã chuyển từ mô hình tăng trưởng và đầu tư truyền thống sang một mô hình mới dựa trên cơ sở lấy nhu cầu trong nước và FDI làm động lực. Việc chuyển nền kinh tế từ hướng vào xuất khẩu sang hướng vào phục vụ nhu cầu nội địa ít ra cũng giải quyết được giảm tình trạng mất cân đối nghiêm trọng với nước ngoài, đặc biệt với Mỹ; tạo ra những lối sống đa dạng với mức sống cao hơn; và khuyến khích cải thiện tổng vốn xã hội để tạo thuận lợi cho việc cải tổ cơ cấu công nghiệp.

Các công ty Nhật Bán đang theo đuổi nhiều chiến lược kinh doanh khác nhau để tự thích ứng với những biến động môi trường nêu trên. Trong số những yếu tố then chốt của các chiến lược này là các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, là việc tập trung hơn và tinh vi hoá công nghệ, sản xuất theo hướng công nghệ cao, việc khai thác hết cường độ thông tin và sự đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, theo hướng hợp lý hoá. Khái niệm tinh vi hoá công nghiệp trở nên phổ biến từ thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao, song lúc đó nó chủ yếu nhằm giảm chi phí thông qua sản xuất hàng loạt. Tuy nhiên, hiện nay mục tiêu chính lại là đạt tới nhiều định hướng khác nhau ví dụ như những khối lượng nhỏ hoặc các dạng sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng[3].

Một phần lượng FDI của các hãng Nhật Bản không hề mâu thuẫn với một nền kinh tế tinh xảo và hướng vào nhu cầu nội địa, bởi vì FDI góp phần tạo ra các dạng sản phẩm có giá trị gia tăng mới, và như vậy tức là góp phần vào việc thành lập hạ tầng cơ sơ xã hội và kinh tế tinh vi ở Nhật Bản. Đồng thời, cũng di chuyển các ngành công nghiệp trưởng thành của Nhật Bản sang các nước công nghiệp hoá kém cạnh tranh hơn hay các nền kinh tế đang công nghiệp hoá mới.

Trên thực tế, trong bối cảnh kinh tế đầy biến động như trên, đầu tư ra nước ngoài của các nhà sản xuất Nhật Bản tăng mạnh sau năm 1986. Từ năm 1985 tỷ trọng xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản đã giảm nhanh và ngược lại, tỷ trọng FDI trong TSPQD lại tăng. Bởi vậy, Nhật Bản đang tiến tới một nền kinh tế hướng vào FDI và nhu cầu nội địa.

Từ những phân tích nêu trên, có thể nhận thấy rằng nền kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh và ổn định có yếu tố tác động tích cực của sự ổn định về nguồn lao động, và tận dụng nguồn lực hỗ trợ của thị trường Mỹ để thúc đẩy cầu nội địa sau Hòa ước Plaza.

Tài liệu tham khảo:

1. Thoả ước Plaza năm 1985;

2. Luật Mậu dịch năm 1974;

3. Bộ luật Mậu dịch và Cạnh tranh năm 1988;

4. Báo cáo Cuối cùng về các cuộc đàm phán SII của Bộ Công nghiệp và Ngoại thương (năm 1990).


[1] Xem Báo cáo Cuối cùng về các cuộc đàm phán SII của Bộ Công nghiệp và Ngoại thương (Công nghiệp và Ngoại thương 1990).

[2] Tỷ lệ các ngành báo cáo là “thừa” lao động so với các ngành báo cáo là “thiếu” lao động.

[3] Cục Kế hoạch Kinh tế, 1990

Đã xem 43 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành