Thứ ba, 26 Tháng 5 2020 04:09

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP

Có thể thấy rằng, bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị nước ta được củng cố, xây dựng qua các lần sửa đổi Hiến pháp và luật. Nhà nước ta rất quan tâm đến chức năng giám sát của Quốc hội đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 69, Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước".

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền lập pháp và giám sát Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong quá trình thực thi pháp luật. Giám sát nhằm bảo đảm sự thống nhất của pháp luật, tránh những hiện tượng vì hiến, trái luật, xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó pháp luật đóng vai trò quan trọng trong quản lý xã hội. Khoản 3 và 4, Điều 74, Hiến pháp năm 2013 quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn là: “Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập; Đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ các văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội".

Về quyền giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội được quy định tại Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 và các văn bản pháp luật khác. Quốc hội thực hiện chức năng giám sát các hoạt động tư pháp thông qua các hình thức như: xem xét báo cáo hoạt động của cơ quan tư pháp; giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan tư pháp; chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ trong cơ quan tư pháp do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; thành lập Ủy ban lâm thời giám sát; tổ chức đoàn giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, cũng như giám sát hoạt động của chính phủ, yêu cầu đối với hoạt động giám sát hệ thống tư pháp là bảo đảm công khai, khách quan. Như vậy, tính công khai, khách quan trong việc giám sát hoạt động của hệ thống tư pháp đòi hỏi phải bảo đảm ở tất cả các khâu, từ theo dõi, xem xét đến đánh giá; từ thu thập thông tin đến kiến nghị; bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; bảo đảm nguyên tắc hoạt động của các cơ quan này, nhất là nguyên tắc độc lập chỉ tuân thủ theo pháp luật trong hoạt động xét xử. Theo quy định của pháp luật thì tùy theo chủ thể thực hiện quyền giám sát mà hậu quả giám sát có thể là yêu cầu khắc phục, sửa chữa những vi phạm pháp luật; trực tiếp bãi bỏ hoặc kiến nghị, đề nghị, yêu cầu bãi bỏ một số phần hay toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết trái với Hiến pháp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bên cạnh đó, trong hoạt động giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp thì đây chính là yếu tố quan trọng tiên quyết nhằm đảm bảo đúng pháp luật và nguyên tắc hoạt động của các cơ quan này, nhất là đối với hoạt động xét xử. Ngoài ra, có thể thấy rằng hoạt động giám sát tư pháp của Quốc hội đã được tiến hành thông qua việc xem xét các báo cáo của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội giám sát và xem xét kết quả giám sát của các cơ quan tư pháp, chất vấn những người đứng đầu các cơ quan này về các vấn đề liên quan đến hoạt động tư pháp.

Trên cơ sở thực hiện giám sát hoạt động của hệ thống tư pháp, Quốc hội kịp thời yêu cầu các cơ quan tư pháp phát huy những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc hoạt động tư pháp và giám sát hoạt động tư pháp. Điều 71, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định về quyền hạn cũng như nhiệm vụ của Ủy ban Tư pháp. Theo đó, Ủy ban Tư pháp thực hiện việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh về hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án, bổ trợ tư pháp. Trong những năm qua, Quốc hội đã tăng cường việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của pháp luật về hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp, thi hành án, luật sư, công tác giám định tư pháp theo đúng chủ trương, định hướng lớn nêu trong Chiến lược cải cách tư pháp của Đảng, từng bước góp phần quan trọng nâng cao chất lượng cải cách tư pháp. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong quá trình giám sát của Quốc hội, vẫn còn tồn tại một số những hạn chế nhất định cần khắc phục một cách triệt để và nghiêm túc nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hệ thống tư pháp.

Đối với giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, trong thời gian qua mặc dù đã tích cực, chủ động thực hiện việc giám sát đối với hệ thống tòa án nhưng trên thực tế công tác giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân tối cao vẫn còn những hạn chế và bất cập:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động giám sát còn chưa đầy đủ và phù hợp với thực tiễn. Công tác thu thập chứng cứ trong các giai đoạn giám sát chưa có những quy định pháp lý cụ thể, như vậy dẫn đến vấn đề đặt ra là, trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, đoàn giám sát tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ mà không có căn cứ để xác định những tài liệu nào được coi là chứng cứ, những tài liệu nào không được coi là chứng cứ, đó là một vấn đề gây khó khăn cho việc thực hiện công tác giám sát. Phạm vi giám sát trong hoạt động xét xử thì quá rộng dẫn đến có những việc quan điểm của đoàn giám sát và cơ quan tòa án có khác nhau. Ví dụ: khi giám sát một vụ án thì việc giám sát về đánh giá chứng cứ thường có những quan điểm khác nhau giữa đoàn giám sát và tòa án.

Thứ hai, có thể thấy, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung và đối với hoạt động của tòa án nói riêng, trước hết phụ thuộc vào hoạt động giám sát của các đại biểu Quốc hội. Trong lĩnh vực giám sát, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội lại càng nặng nề vì đó là việc phải xem xét và quyết định những vấn đề đã và sẽ xảy ra trong thực tế đời sống, xã hội chứ không còn trên văn bản như các luật của Nhà nước. Tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của các đại biểu Quốc hội làm cho hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn và giải quyết các kiến nghị của cử tri chậm được khắc phục.

Đồng thời, vai trò, trách nhiệm và tính chủ động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong hoạt động giám sát chưa cao. Vì vậy, hiệu quả giám sát của đại biểu Quốc hội bị hạn chế, một phần là do ý thức trách nhiệm của đại biểu Quốc hội nhưng nguyên nhân chính là chưa có sự quan tâm một cách đúng mức và hợp lý đến những điều kiện cần và đủ để đại biểu Quốc hội hoạt động tốt, thực hiện quyền hạn của mình, nhất là trong hoạt động giám sát.

Thứ ba, điều kiện vật chất, kinh phí phục vụ cho hoạt động giám sát còn thiếu. Thực tế cho thấy, muốn thực hiện được quyền giám sát tối cao, Quốc hội phải tiến hành các hoạt động xem xét, theo dõi, đi kiểm tra thực tế. Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật thì trước hết phải có Hiến pháp và một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, hay nói một cách khác, phải có căn cứ vững chắc để nhận xét, đánh giá một văn bản pháp quy nào đó đúng hoặc sai; để kết luận một vụ việc nào đó là đúng hay sai đều phải dựa vào căn cứ pháp luật.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số quy định pháp luật trước đây không còn phù hợp, nhưng việc sửa đổi, bổ sung còn tiến hành chậm. Do vậy trong những trường hợp này, việc nhận xét, đánh giá là khó khăn trong hoạt động giám sát của Quốc hội. Quốc hội có chức năng giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của tất cả các văn bản pháp quy do cơ quan nhà nước ban hành và giám sát tính hợp pháp, hợp hiến trong hoạt động của cơ quan nhà nước, như vậy, đối tượng giám sát của Quốc hội là rất rộng, nội dung mà Quốc hội cần giám sát cũng rất đa dạng và phức tạp trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Trong tình hình hiện nay, số lượng các văn bản rất lớn, việc đảm đương nhiệm vụ xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản dưới luật và các văn bản pháp quy khác do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành cần phải được Quốc hội thực hiện tốt hơn nữa.

Về mặt giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động thực tiễn của Tòa án nhân dân tối cao, những cơ quan này có chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn hoạt động rất rộng. Với một tổ chức hoạt động với số người ít, lại không chuyên trách như hiện nay thì trên thực tế hoạt động giám sát của Quốc hội và Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu dựa vào nghe báo cáo của các cơ quan chịu sự giám sát mà thiếu việc giám sát trực tiếp trong hoạt động của các cơ quan này.

Đối với công tác giám sát việc ban hành văn bản dưới luật: Việc giám sát của Quốc hội còn theo kiểu dàn trải, phạm vi giám sát rộng, dẫn tới không đạt hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu, phân loại, xử lý đơn thư để giám sát hoặc chuyển đến cơ quan hữu quan, đôn đốc và theo dõi việc giải quyết các đơn thư đó còn yếu và nguyên nhân là do hoạt động của các cơ quan tư pháp còn chưa thực sự hiệu quả.

Trên thực tế, chỉ một số ít nơi tổ chức tiếp xúc cử tri tương đối tốt, còn phần lớn vẫn mang tính hình thức. Việc thực hiện công tác giám sát đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tối cao chưa làm được nhiều và chưa bao quát hết các lĩnh vực, các giai đoạn tố tụng. Việc giám sát mới chỉ dừng lại ở việc nghe cơ quan địa phương báo cáo và sau khi giám sát cũng chỉ mới đưa ra được những đánh giá, kiến nghị mà chưa theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị đó. Chưa thu hút được nhiều thành viên ủy ban tham gia hoạt động giám sát; việc đôn đốc các cơ quan, tổ chức hữu quan thực hiện những kiến nghị của đoàn giám sát chưa được thường xuyên. Những hạn chế, bất cập nói trên do nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân về mặt tổ chức, nhưng chủ yếu là do quy định của pháp luật về giám sát vẫn chưa cụ thể, nhất là nội dung giám sát và hậu quả pháp lý của cuộc giám sát để làm căn cứ pháp luật cho Ủy ban Tư pháp của Quốc hội hoạt động giám sát có hiệu quả hơn.

Đối với hoạt động Giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thời gian qua mặc dù có nhiều cố gắng nhưng công tác giám sát của Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội đối với hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn tồn tại những hạn chế như:

Trong những năm qua, hoạt động giám sát của Quốc hội mặc dù đã có những thành công nhất định, đặc biệt là qua các hoạt động chất vấn sôi nổi nhưng hoạt động chất vấn cũng như các hoạt động khác của chức năng giám sát của Quốc hội Việt Nam mới chỉ dừng lại ở khuyến cáo, không có khả năng áp dụng các chế tài của giám sát, làm cho hiệu quả hoạt động giám sát không cao. Người có trách nhiệm thường chỉ hứa hẹn nhiều, thậm chí còn có hiện tượng đổ lỗi cho nhau với lý do trách nhiệm không được phân định rõ ràng, chồng chéo. Hiệu quả giám sát của các đại biểu Quốc hội có phần bị hạn chế vì tồn tại tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn. Mặt khác, hoạt động này chưa được quan tâm một cách đúng mức và hợp lý.

Bên cạnh đó, hệ thống điều chỉnh hoạt động giám sát chưa hoàn thiện và thiếu cụ thể, chẳng hạn trong hoạt động giám sát chưa có những quy định pháp chế cụ thể nên gây khó khăn trong việc xác nhận tài liệu chứng cứ... Các điều kiện vật chất, kinh phí phục vụ cho hoạt động giám sát còn thiếu. Những hạn chế nêu trên là do một số nguyên nhân cơ bản sau:

Trước hết là phạm vi giám sát quá rộng khiến hiệu quả giám sát giảm. Một trong những nguyên nhân là chưa có quy trình cho từng hoạt động giám sát: giám sát ngân sách, chất vấn, giám sát theo đoàn... Tất cả những vướng mắc trong giám sát một phần đều do chưa có quy trình: tính hình thức, thiếu cơ chế phối hợp, thiếu chế tài xử lý, các quyết định giám sát không có hiệu lực pháp lý, khó quy trách nhiệm …

Trong quá trình thực hiện giám sát, nhiều quy định giám sát khó thực hiện vì chỉ đưa ra những quy định chung chung về quyền của Quốc hội nhưng quy trình cụ thể lại không ghi rõ, không phù hợp với thực tiễn hoạt động và nhiều khi các quy định như vậy chưa được nghiên cứu kỹ về tính khả thi. Trở ngại lớn đối với giám sát là thiếu thông tin được xử lý. Thực tế cho thấy, giám sát đòi hỏi phải có thông tin về đối tượng giám sát, năng lực của cơ quan giám sát và thực quyền trong việc theo dõi, bắt buộc, đôn đốc đối tượng giám sát phải cải thiện tình hình, có phản ứng tích cực. Hiện nay, trong công tác của Quốc hội vẫn còn thiếu các yếu tố này và phải giải quyết trong tình trạng thiếu thông tin.

Qua thực tiễn hoạt động giám sát, tựu chung lại, các đối tượng chịu giám sát nhiều khi thiếu tinh thần hợp tác, không muốn cung cấp thông tin hoặc cung cấp muộn, không đầy đủ, không chịu nhận trách nhiệm hoặc nhận trách nhiệm rất nhanh chóng, dễ dàng, nhưng sau đó không thực hiện nghiêm túc những kiến nghị giám sát mà lại không chịu một chế tài xử lý nào.

Mặt khác, bản thân đại biểu Quốc hội đôi khi không hiểu đúng trọng tâm giám sát là ở đâu, thiếu những kỹ năng, kiến thức cần thiết để phát hiện những vấn đề cần giám sát từ một trong số những vấn đề mà các đối tượng giám sát trình bày.

Với chức năng giám sát Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong quá trình thực hiện, Quốc hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, giữa mục tiêu, phương hướng với thực tiễn của quá trình thực hiện giám sát vẫn còn một số hạn chế. Chính những hạn chế đó đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết để hoàn thiện hệ thống chính trị.

Tài liệu tham khảo

1. Hiến pháp năm 2013

2. Luật tổ chức Quốc hội năm 2014

Đã xem 29 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành