Thứ tư, 19 Tháng 8 2020 09:37

MỘT SỐ GÓP Ý SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Xuất phát từ thực trạng các quy định pháp luật môi trường Việt Nam hiện nay. Hệ thống pháp luật quy định về môi trường ở Việt Nam đã phát triển cả về nội dung lẫn hình thức, điều chỉnh tương đối đầy đủ các yếu tố tạo nên thành phần môi trường. Các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường đã quy định từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi cá nhân, tổ chức trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường; là cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo vệ môi trường. Các quy định pháp luật đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường; xác định rõ bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân chứ không phải chỉ là trách nhiệm riêng của Nhà nước. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật về môi trường liên quan đến từng yếu tố môi trường hay điều chỉnh những hoạt động của con người tác động đến môi trường được ban hành chưa đồng bộ cả về mặt thời gian ban hành và nội dung của các quy định. Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tương đối đầy đủ các thành tố, nội dung các quy định pháp luật đã cụ thể hóa tương đối kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã cam kết. Tuy nhiên, cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật quốc gia cũng như cam kết quốc tế chưa cao. Các biện pháp chế tài nói chung chưa thích và chưa đủ mạnh để trừng trị và răn đe những hành vi vi phạm[1] và các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế nên việc hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra cần được xem xét ở các mặt sau:

Một là, hoàn thiện các quy định liên quan đến quyền khởi kiện của công dân. Cơ chế ủy quyền khởi kiện cho một bên nào đó dù họ là bên thứ ba trong một vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường cũng sẽ giúp giảm thiểu thời gian, công sức, tiền bạc của các bên. Ở một số nước trên thế giới (Malaixia, Singapo, Nhật Bản... ), khi xảy ra các dạng tranh chấp như trên, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện riêng lẻ như ở Việt Nam hoặc khởi kiện tập thể để tự bảo vệ mình. Trong bối cảnh sự gia tăng của các tranh chấp bồi thường thiệt hại môi trường có số lượng bị đơn đông đảo như hiện nay, tác giả cuốn sách đề nghị nên ghi nhận quyền khởi kiện tập thể để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Điều này có thể mang lại một số thuận lợi như:

- Đối với Tòa án: trong trường hợp luật cho phép áp dụng chế định kiện tập thể thì chỉ có một cá nhân hay một cơ quan, tổ chức đại diện thay vì phải lần lượt vất vả làm việc trực tiếp với tất cả các chủ thể bị thiệt hại, với hàng chục, hàng trăm và thậm chí là hàng ngàn lần tống đạt, lần triệu tập, cũng như rất nhiều lần tổ chức hòa giải, Tòa án sẽ chỉ làm việc với người đại diện nên giảm thiểu được các khâu thủ tục lặp đi lặp lại. Chưa kể, trong cơ chế kiện tập thể, khi bản án của Tòa án có hiệu lực thì quá trình thi hành án cũng dễ dàng hơn. Đồng thời, làm giảm gánh nặng cho Tòa án cấp dưới, vừa giúp cho việc giải quyết vụ việc nhanh chóng, thuận lợi hơn.

- Đối với các đương sự: về phía người bị thiệt hại, việc họ ủy quyền cho cá nhân hoặc tổ chức đứng ra thay mặt khởi kiện sẽ giúp quá trình chứng minh thiệt hại nhanh hơn, chính xác hơn, kỹ càng hơn. Thực tế, trình độ nhận thức và kiến thức pháp luật của người dân không đồng đều. Khi họ ủy quyền cho người hiểu biết hơn hoặc một cơ quan có chuyên môn thi công việc sẽ trôi chảy và có khả năng đạt kết quả tốt hơn nhiều. Chưa kể, nếu ủy quyền cho một tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân chẳng hạn, với tư cách pháp nhân, Hội sẽ dễ dàng yêu cầu các cơ quan khác cung cấp tài liệu, chứng cứ hơn là người dân trực tiếp đi xin. Bên cạnh đó, người dân còn tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc vì không phải trực tiếp lui tới Tòa án nhiều lần. Không chỉ phía nguyên đơn được lợi, mà cả phía bị đơn cũng “khỏe” hơn nhiều. Chẳng hạn, thay vì phải nhiều lần nhận tống đạt, nhiều lần bị triệu tập và tham gia hòa giải, phía bị đơn sẽ chỉ phải cử đại diện tham gia một vụ kiện chung với các thủ tục thông thường. Như vậy, chưa tính đến kết quả xét xử thắng thua ra sao, trước mắt bị đơn đã tiết kiệm được rất nhiều công sức, thời gian, tiền bạc so với việc phải lần lượt theo hầu kiện từng vụ riêng lẻ một. Đồng thời, quy định quyền khởi kiện tập thể cũng có ý nghĩa tác động đến ý thức, hành vi của chủ thể gây thiệt hại khi họ nhận thấy rằng, người bị thiệt hại đã có những thiết chế pháp lý để yêu cầu bồi thường thiệt hại thuận lợi, hiệu quả hơn rất nhiều so với trước đây.

Đồng thời, đối với các vụ việc phức tạp có số lượng nguyên đơn đông đảo như thế này, có nhiều ý kiến cho rằng luật có thể cho phép những người có lợi ích bị xâm hại có tính chất giống nhau được nhóm lại thành một hội có tư cách pháp nhân. Hội loại này chỉ tồn tại nhằm mỗi mục tiêu bảo vệ lợi ích của hội viên trong trường hợp đặc thù và giải tán sau khi mục tiêu chung đã đạt được. Luật có thể trao cho hội quyền thay mặt các hội viên đứng nguyên đơn trong một vụ kiện vì lợi ích tập thể của hội viên. Để tạo nguồn tài chính cần thiết cho việc theo đuổi vụ kiện, đặc biệt là chi phí cho việc thu thập chứng cứ, hội được quyền thu hội phí, thậm chí được tổ chức quyên góp ngoài xã hội dưới sự giám sát của các cơ quan thẩm quyền...[2] Đây cũng là một giải pháp cần được các nhà làm luật quan tâm trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật hiện hành. Bởi, thực tế cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, việc các nạn nhân tập hợp lại thành một tổ chức nhằm tạo nên sức mạnh tập thể để đấu tranh với các chủ thể vi phạm không phải là chuyện hiếm. Hơn thế, kiểu tổ chức xã hội này không xa lạ với thực tiễn pháp lý Việt Nam. Hội các nạn nhân chất độc da cam là một trong những khuôn mẫu giải quyết tranh chấp liên quan đến lợi ích tương đồng của nhiều cá nhân thông qua vai trò của một chế định tập thể.

Hai là, hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ chứng minh của một định chế tập thể. đương sự. Khi quyền, lợi ích chính đáng bị xâm phạm, mọi công dân đều có quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặc dù vậy, có thể khẳng định rằng, khả năng tự bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự là rất thấp, nguyên nhân chính xuất phát từ trình độ dân trí chưa cao, sự hiểu biết pháp luật còn rất hạn chế đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn nghèo khó trước các yêu cầu về chứng minh, chứng cứ như hiện nay. Đặc biệt là trong các vụ việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, việc xác minh thiệt hại luôn là trở ngại lớn nhất của người dân. Xuất phát từ điều đó, thiết nghĩ, pháp luật cần có quy định phù hợp với những đặc thù của lĩnh vực môi trường theo hướng giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho người bị thiệt hại khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo đó, có quan điểm cho rằng, nghĩa vụ chứng minh trong các trường hợp này được tiếp cận theo hướng người nào chứng minh được thiệt hại đối với môi trường tự nhiên thì cũng sẽ chứng minh được thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản cũng như mối quan hệ nhân quả giữa các thiệt hại xảy ra và tình trạng ô nhiễm môi trường. Với cách tiếp cận này, trách nhiệm chứng minh trước tiên thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong việc chứng minh thiệt hại xảy ra đối với môi trường tự nhiên, từ đó làm cơ sở để xác định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người dân. Mặt khác, để giải quyết những khó khăn đối với việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp nhiều người cùng gây ô nhiễm, nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau là giải pháp đã được pháp luật dân sự tính đến trong trường hợp này. Tuy nhiên, để bảo đảm sự công bằng trong áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, có quan điểm cho rằng, trong các trường hợp này, nếu người gây thiệt hại chứng minh được mức độ mà mình gây thiệt hại đối với môi trường là không đáng kể thì họ chỉ phải bồi thường thiệt hại theo phân tương ứng với mức độ gây hại đó[3]. Thiết nghĩ, đây là hướng giải quyết tối ưu, bởi, theo quy định này thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về đối tượng gây thiệt hại, qua đó, sẽ giúp các tổ chức, cá nhân nâng cao hơn trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng như nâng cao năng lực tự bảo vệ mình trong lĩnh vực này.

Ba là, về mức bồi thường. Một nguyên tắc quan trọng trong chế định bồi thường thiệt hại là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ. Tuy nhiên, trong lĩnh vực môi trường, nguyên tắc này không đủ sức để răn đe các chủ thể gây thiệt hại cũng như bảo vệ tốt nhất quyền lợi của chủ thể bị hại, nhất là trong điều kiện các căn cứ xác định thiệt hại còn chưa rõ ràng làm cho mức thiệt hại mà các cơ quan chuyên môn đưa ra thường thấp hơn rất nhiều so với thiệt hại xảy ra trên thực tế. Mặt khác, các thiệt hại về môi trường không chỉ chấm dứt ngay tại thời điểm hành vi vi phạm kết thúc, hoặc thời điểm giải quyết bồi thường thiệt hại mà nó còn có thể kéo dài, đặc biệt là các thiệt hại về sức khỏe. Do vậy, thiết nghĩ, các nhà lập pháp cần nghiên cứu, áp dụng chế độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới, theo đó, mức bồi thường mà bên gây thiệt hại có nghĩa vụ chi trả phải tương đương với giá trị lợi nhuận mà các chủ thế này thu được 1 gây ô nhiễm môi trường, hoặc gấp 2, 3 và thậm chí là nhiều lần so với mức thiệt hại được tính toán.

Tài liệu tham khảo:

1. Võ Trung Tín: “Tổng quan về pháp luật môi trường Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế "Môi trường và nhà nước pháp quyền: tăng cường thực thi pháp luật về môi trường ở khu vực Đông Nam Á” do Viện Nhà nước và Pháp luật - Chương trình pháp quyền châu Á tổ chức, 2014.

2. http://phapluattp.vn/2010051511023419p1063c1016/tu-vu vedan - sua - luat - ra - sao, htm (truy cập ngày 20/2/2018)

3. Vũ Thu Hạnh & các đồng nghiệp trường Đại học Luật Hà Nội: Báo cáo về quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam. Cơ sở pháp lý và quy trình thực hiện,

 


[1] Xem thêm Võ Trung Tín: “Tổng quan về pháp luật môi trường Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế "Môi trường và nhà nước pháp quyền: tăng cường thực thi pháp luật về môi trường ở khu vực Đông Nam Á” do Viện Nhà nước và Pháp luật - Chương trình pháp quyền châu Á tổ chức, 2014.

[2]http://phapluattp.vn/2010051511023419p1063c1016/tu-vu vedan - sua - luat - ra - sao, htm (truy cập ngày 20/2/2018)

[3] Vũ Thu Hạnh & các đồng nghiệp trường Đại học Luật Hà Nội: Báo cáo về quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam. Cơ sở pháp lý và quy trình thực hiện, Tlđd, tr. 21.

Đã xem 143 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành