Thứ ba, 28 Tháng 7 2020 03:31

SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Xuất phát từ nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại hội XII của Đảng (20/01-28/01/2016) tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng về đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Báo cáo chính trị trình Đại hội XII xác định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người vừa là nguồn gốc, vừa là nguồn lực, vừa là mục tiêu của quá trình xây dựng Nhà nước, trong đó có quyền con người được sống trong một môi trường trong lành, môi trường không bị ô nhiễm. Do đó, các chế định về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền đóng vai trò rất quan trọng để đạt được mục tiêu này. 

Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 đã quy định được nhiều vấn đề, điều chỉnh cơ bản những hoạt động có tác động tới môi trường như: đối tượng chịu thuế, mức thuế suất, phương pháp tính thuế... Tuy nhiên, đối chiếu với mục tiêu, yêu cầu đặt ra thì vẫn còn nhiều nội dung cần phải được tiếp tượng tục hoàn thiện, bổ sung và thay đổi. 

Thứ nhất, về đối tượng chịu thuế. Các quy định về đối chịu thuế bảo vệ môi trường cần bao hàm mọi sản phẩm, hàng hóa gây tác động tiêu cực đến môi trường nhằm bảo đảm mục đích tạo sự công bằng cho tất cả những chủ thể gây ô nhiễm phải trả tiền. Điều này Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 chưa làm được. Đến thời điểm hiện nay, khi áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 được một thời gian, có thể xem xét, lựa chọn những đối tượng phù hợp với trình độ phát triển, khả năng chịu đựng của nền kinh tế. Việc đưa vào diện chịu thuế một loại sản phẩm còn cân nhắc đến khả năng thực hiện được của nhà sản xuất, của cơ quan quản lý và tính khả thi của luật. Hơn nữa, việc đánh thuế còn phải tính đến khả năng chịu đựng của người sản xuất và tiêu dùng, tính đến lợi ích trong lựa chọn giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Không thể có sự phát triển kinh tế cao cùng với bảo vệ môi trường tốt khi điều kiện có hạn. Trong điều kiện nước ta hiện nay, chỉ nên lựa chọn những sản phẩm có ảnh hưởng tới môi trường trên diện rộng và xác định mức thuế hợp lý, bảo đảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, cũng như khả năng tiêu dùng của người dân. Trên thực tế có rất nhiều sản phẩm khi sử dụng, thải bỏ đều gây ô nhiễm môi trường, nhưng mức độ gây ô nhiễm ở mức khác nhau. Tuy vậy, để bảo đảm tính thuyết phục của luật, cần phải lý giải cụ thể về căn cứ xác định đối tượng chịu thuế, đối tượng chưa thuộc diện chịu thuế trong khi có rất nhiều sản phẩm cùng gây ô nhiễm môi trường. Và để bảo đảm tính bao quát, công bằng, bảo vệ môi trường bằng việc thu thuế bảo vệ môi trường sẽ đầu tư cho việc khắc phục hậu quả, cải thiện môi trường. thuộc diện chịu thuế trong khi có rất nhiều sản phẩm cùng gây của quy định về đối tượng chịu thuế, cần phải rà soát lại danh mục hàng hóa, khảo sát thêm thực tiễn, bổ sung các đối tượng chịu thuế dựa trên nguyên tắc đã là sản phẩm gây tác động tiêu cực đến môi trường thì phải thuộc diện chịu thuế. Đối với những sản phẩm, hàng hóa có mức độ tác động không lớn hoặc hàng hóa có gây ô nhiễm song tại thời điểm hiện nay cần hỗ trợ để bảo đảm tính cạnh tranh thì trước mắt có thể áp dụng thuế suất thấp hoặc quy định mức thuế suất 0% để xử lý linh hoạt trong một số trường hợp cần thiết, tránh tình trạng phải sửa đổi, bổ sung, bảo đảm tính ổn định của Luật Thuế bảo vệ môi trường.

Về tính cụ thể trong quy định về đối tượng chịu thuế: Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 cho phép Chính phủ quy định chi tiết về đối tượng chịu thuế bằng văn bản dưới luật. Ta thấy việc xác định đối tượng chịu thuế là một trong những vấn đề cốt lõi, cơ bản của một đạo luật về thuế, liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của nhiều tổ chức, cá nhân. Do đó, nội dung này phải được xác định cụ thể ngay trong Luật Thuế bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm tính minh bạch, thuận tiện trong áp dụng chính sách. Vì vậy, cần phải rà soát, bổ sung các quy định chi tiết nhằm làm rõ đối tượng chịu thuế. Ngoài ra, một Trong những mục tiêu đặt ra đối với việc ban hành Luật Thuế khai thác nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo nguồn lực đầu tư cho việc khắc phục hậu quả, cải thiện môi trường. Do đó, nếu đối tượng chịu thuế được quy định trong Luật Thuế, bảo vệ môi trường quá hẹp thì khó có thể đáp ứng được mục tiêu này.

Thứ hai, về căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối. Căn cứ này có th điểm là dễ áp dụng trong việc xác định mức thuế nhưng lại không phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, đó là số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu đến môi trường. Yếu tố “ngang giá” cần được ưu tiên trong việc buộc chủ thể gây ô nhiễm phải trả. Cần xác định rõ mục tiêu chính của việc áp dụng thuế này, đó là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, hay như là công cụ kinh tế tác động vào hành vi gây biến đổi môi trường. Nếu quan niệm đây là nguồn thu cho ngân sách nhà nước, cần quy định cụ thể về phương pháp xác định số lượng hàng hóa tính thuế. Nếu quan niệm đây là công cụ kinh tế tác động vào hành vi gây biến đổi môi trường, trong điều kiện hiện nay, cùng với kinh nghiệm của việc áp dụng loại thuế này, tác giả nghĩ có thể chuyển sang mức thuế tương đối. 

Thứ ba, về căn cứ xác định khung thuế suất. Việc xác định thuế suất thuế bảo vệ môi trường là vấn đề cốt lõi và phức tạp, phải được dựa trên những luận cứ khoa học chặt chẽ, căn cứ thực tiễn xác đáng. Các tiêu chí để xây dựng khung thuế suất đối với một số đối tượng chịu thuế như trong Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 là chưa đủ căn cứ thực tiễn nên tính thuyết phục chưa cao. Việc xác định khung thuế suất đối với một số mặt hàng như xăng, dầu, than dựa trên mức phí bảo vệ môi trường là chưa hợp lý vì tính chất điều tiết của hai công cụ là khác nhau. Mặt khác, phí bảo vệ môi trường xác định mức thu cụ thể, nhưng thuế bảo vệ môi trường lại quy định khung thuế suất. Vì vậy, để các quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường mang tính thuyết phục, cần lý giải rõ căn cứ tính thuế, tác động về kinh tế - xã hội, mức độ gây ô nhiễm môi trường đối với từng mặt hàng dựa trên những luận cứ khoa học, có số liệu minh chứng cụ thể, tránh tình trạng áp dụng thuế suất chủ quan, không bảo đảm công bằng trong áp dụng chính sách. Cần áp dụng mức thuế suất cao đối với sản phẩm gây ô nhiễm môi trường mà có sản phẩm khác thay thế nhằm khuyến khích sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, góp phần thay đổi hành vi tiêu dùng, thói quen sử dụng. Tuy nhiên, đối với sản phẩm không có sản phẩm khác thay thế thì cần cân nhắc áp dụng thuế suất không cao, tránh làm tăng giá sản phẩm, gây bất lợi cho người tiêu dùng. 

Thứ tư, về thẩm quyền xác định thuế suất trong khung thuế suất. Quốc hội quy định khung thuế suất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ quy định các mức thuế suất cụ thể. Việc giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định các mức thuế suất cụ thể là hợp lý, bảo đảm tính linh hoạt trong điều hành, phù hợp với biến động trong điều kiện kinh tế chưa ổn định. Tuy nhiên, Luật Thuế bảo vệ môi trường không nên quy định khung thuế suất mà cần phải quy định mức thuế suất cụ thể ngay trong Luật nhằm bảo đảm nguyên tắc thuế suất do Quốc hội quyết áp dụng ổn định. Riêng đối với trường hợp đặc thù như xăng dầu, than, để bảo đảm lộ trình thực hiện phù hợp với tình hình biến động giá cả và đáp ứng việc thực hiện cam kết vụ Quốc hội quyết định mức thuế suất trong từng thời kỳ. 

Thứ năm, về biên độ khung thuế suất. Biên độ khung thuế suất quy định là quá rộng đối với hầu hết các nhóm hàng, mặt hàng. Để khắc phục điều này, cần chia nhỏ các nhóm hàng ra, có khung thuế suất riêng đối với từng mặt hàng. Đối với hàng hóa chịu sự biến động lớn về giá, có thể quy định biên độ rộng, còn đối với những mặt hàng khác cần thu hẹp biên độ lại. 

Thứ sáu, ban hành các quy định về bán hạn ngạch ô nhiễm. Như đã đề cập, Việt Nam chưa triển khai trong khi đây là giải pháp hay mà các nước phát triển đang áp dụng. Do đó, song song với việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường, chúng ta cần nghiên cứu và sớm ban hành các quy định về hình thức này. Việc bán hạn ngạch ô nhiễm áp dụng đối với các doanh nghiệp thải các chất thải độc hại vừa tạo nguồn thu ngân sách, vừa hạn chế và kiểm soát ô nhiễm, vừa có kinh phí để tài trợ lại cho các đối tượng bị thiệt hại. Đây là thị trường rất tiềm năng, đem lại lợi ích kinh tế lớn, trong điều kiện Việt Nam là quốc gia không bị ràng buộc về lượng khí thải của Công ước Khung của Liên hợp lốc về biến đổi khí hậu năm 1992 và Nghị định thư Kyoto năm 1997). Trong Nghị định thư Kyoto năm 1997 chỉ ràng buộc nghĩa vụ cắt giảm khí nhà kính của các quốc gia thuộc Phụ lục B (bao gồm 36 quốc gia công nghiệp phát triển). Việt Nam là quốc gia nằm ngoài Phụ lục B, không bị ràng buộc nghĩa vụ cắt giảm khí nhà kính nên có thể tham gia vào thị trường mua bán hạn ngạch phát thải khí nhà kính và sử dụng số tiền này để đầu tư cắt giảm khí nhà kính bằng cách trồng rừng, nâng cao tiêu chuẩn khí thải, áp dụng cơ chế phát triển sạch..

Việc ban hành và áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường phải tạo ra được công cụ quản lý vĩ mô hữu hiệu nhằm xác định và bảo đảm việc thực hiện trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân gây tác động tiêu cực đến môi trường; nâng cao nhận thức của người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường; hạn chế tối đa ảnh hưởng của sản xuất, kinh doanh đến môi trường. Các quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam, một mặt động viên hợp lý nguồn thu cho khắc phục hậu quả môi trường nhưng mặt khác vẫn phải bảo đảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư, ổn định thị trường, giá cả, kiềm chế lạm phát, không xáo trộn sản xuất, kinh doanh trong nước, đặc biệt không làm tăng gánh nặng tài chính từ chính sách đối với người tiêu dùng, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước với Nhân dân. Điều này phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể với các quy định của pháp luật có liên quan, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của toàn hệ thống, phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm việc thực hiện cam kết quốc tế

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.

2. Võ Trung Tín, Nguyễn Lâm Trâm Anh: “Thuế bảo vệ môi trường - hình thức thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền trong pháp luật môi trường Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16 (272), 2014

Đã xem 520 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành