Thứ hai, 24 Tháng 8 2020 07:44

Góp ý hoàn thiện các quy định về tội buôn lậu, gian lận thương mại trong phòng chống tội phạm phi truyền thống trong Bộ Luật hình sự

Hiện nay, nhằm ứng phó một loại tội phạm phi truyền thống - tội phạm xuyên quốc gia (như tội khủng bố, tội mua bán người, tội phạm về ma túy...) giữa Việt Nam và các nước ASEAN đã có nhiều hoạt động để đối phó hiệu quả vấn đề này. Thực trạng khu vực Đông Nam Á, chưa tính đến sự gắn kết của cộng đồng ASEAN, vốn đã có điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi cho sự bùng phát các loại tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia - tội phạm phi truyền thống. 

Về tự nhiên, Đông Nam Á nằm ở phía Đông Nam châu Á, nơi tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có vị trí cầu nối giữa lục địa Á - Âu với lục địa Ôxtrâylia. Địa hình Đông Nam Á bao gồm một hệ thống các bán đảo, đảo và quần đảo đan xen giữa các biển và vịnh biển rất phức tạp. Chính vị trí “ngã tư đường của thế giới đã khiến Đông Nam Á sớm trở thành cửa ngõ mậu dịch quốc tế, nối liền hai thế giới Đông - Tây. Lợi thế giao thương, nhất là giao thường đường biển của Đông Nam Á đồng thời cũng khiến khu vực này trở thành tâm điểm của nạn buôn lậu và buôn bán người. Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển nhanh khiến cho luồng tài chính, nguồn lao động luân chuyển bên trong và ra, vào khu vực không ngừng gia tăng. Thêm vào đó, năng lực quản lý hạn chế của chính quyền các quốc gia Đông Nam Á là điều kiện thuận lợi cho gian lận thương mại quốc tế, hoạt động rửa tiền, buôn bán người... Do đó, cùng với sự phát triển về khoa học - công nghệ, giao thông vận tải trên toàn thế giới, tính chất xuyên quốc gia, phi truyền thống của các loại tội phạm trong khu vực càng gia tăng. 

Cùng với các điều kiện tự nhiên, xã hội của khu vực như trên, việc thành lập, củng cố mối liên kết cộng đồng ASEAN đã khiến cho tội phạm xuyên quốc gia trở thành một thách thức lớn đối với Đông Nam Á. ASEAN - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập ngày 08/8/1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng Cốc với mục tiêu tổng quát là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn mở rộng hợp tác với bên ngoài. Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội, trong đó cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo sự hấp dẫn với đầu tư - kinh doanh từ bên ngoài. Việc tăng cường liên kết cộng đồng ASEAN với các mục tiêu kinh tế, giúp cho việc đi lại, vận chuyển, giao dịch thương mại điện tử, luân chuyển tài chính giữa các quốc gia Đông Nam Á và từ Đông Nam Á ra thế giới ngày càng gia tăng và trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn. Đó cũng là điều kiện tốt để thực hiện các hành vi phạm tội xuyên quốc gia, làm gia tăng phạm vi ảnh hưởng của các loại tội phạm này. Vì vậy, đồng thời với việc hưởng các lợi ích từ liên kết cộng đồng ASEAN thì các quốc gia trong khu vực cũng phải đối mặt với nguy cơ bùng phát tội phạm xuyên quốc gia. Do đó, chỉ ít năm sau khi được thành lập, ASEAN đã xác định đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia là một trong những trọng tâm hợp tác. Năm 1997, ASEAN chính thức thiết lập cơ chế Hội nghị Bộ trưởng về hợp tác trong lĩnh vực này. Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia lần thứ nhất (1st AMMTC) họp vào tháng 12/1997 tại Manila (Philippin) đã ra Tuyên bố ASEAN về chống tội phạm xuyên quốc gia, trong đó nhấn mạnh quyết tâm chính trị của ASEAN đấu tranh chống loại tội phạm này. Vì vậy, để hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia - một trong các tội phạm phi truyền thống, ASEAN đã xây dựng và thông qua Kế hoạch hành động ASEAN về đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia năm 1999 cùng Kế hoạch công tác để triển khai cụ thể năm 2002.

Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc hoàn thiện khung pháp lý về chống buôn lậu do tổ chức, cá nhân, pháp nhân thực hiện đã được thể hiện cụ thể trong Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 và tiếp tục hoàn thiện trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các tội buôn lậu.

Trong 6 năm (từ năm 2012 đến năm 2017), quy định về tội buôn lậu ở Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã được áp dụng xử lý hình sự đối với 1.059 bị cáo trong 573 vụ buôn lậu như sau: 

Bảng Thống kê xét xử sơ thẩm tội buôn lậu (Điều 153 Bộ luật Hình sự)

Năm

2012   

2013

2014

2015

2016

2017

Tổng cộng

Số vụ

79

97  

97 

101

106 

93

573 

Số bị cáo

147 

183 

180 

190 

211 

148 

1.059

Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao năm 2018

 

Tuy nhiên, số vụ việc xử lý về hình sự cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với thực tế diễn biến của hành vi buôn lậu. Đơn cử, theo thống kê năm 2014, các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 9.683 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới với 8.599 đối tượng. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2015, số vụ việc bị phát hiện, xử lý đã lên tới 9.670 vụ, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước. Số vụ việc bị xử lý về hình sự chiếm tỷ lệ nhỏ so với thực tế hành vi buôn lậu xuất phát từ nguyên nhân cơ bản là định lượng trong quy định về tội buôn lậu của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Theo quy định tại Điều 153, hàng buôn lậu phải có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên hoặc thấp hơn giá trị đó nhưng người vi phạm phải từng bị xử phạt hành chính hoặc có tiền án về một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thì mới cấu thành tội phạm, song mức độ răn đe vẫn chưa cao. 

Tuy nhiên, đối với quy định về điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại cần bảo đảm tính hợp lý và lôgíc, cũng như cần bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với một số tội phạm khác. Khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra các điều kiện để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;. (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do đây là bốn điều kiện độc lập và phải có tổng đủ các điều kiện này mới truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Song, trong các điều kiện trên, điều kiện thứ nhất (hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại) và điều kiện thứ ba (hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại) dường như chưa độc lập với nhau vì thực tế, nếu hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại thì không thể lại có trường hợp không có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của pháp nhân thương mại và ngược lại, nếu đã có sự chỉ đạo, điều hành hay chấp thuận của pháp nhân thương mại thì chính là đã nhận danh pháp nhân rồi. Do đó, nên ghép hai điều kiện này vào thành một điều kiện chung. Ngoài ra, cũng có quan điểm lập luận cho rằng, điều kiện thứ ba này chỉ là điều kiện bổ sung và chỉ đặt ra trong trường hợp người thực hiện tội phạm (nhân danh pháp nhân thương mại và vì lợi ích của pháp nhân thương mại) còn có cấp trên có quyền chỉ đạo, điều hành họ thực hiện hoặc chấp thuận cho họ thực hiện. Ví dụ: Hội đồng quản trị của các công ty cổ phần hay hội đồng thành viên của các công ty trách nhiệm hữu hạn là cơ quan cấp trên của tổng giám đốc; .v.v...

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định rõ ràng phạm vi 33 tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 76). Tuy nhiên, để chủ động ứng phó, đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như bảo vệ an ninh môi trường tránh thảm họa cho con người, cũng như bảo đảm an toàn cá nhân, tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng - bất kỳ ai trong xã hội, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và xử lý pháp nhân thương mại cùng với cá nhân). 

Tại Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sửa đổi, bổ sung về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhấn thương mại như sau”

“1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây: 

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại hay được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại 

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; 

c) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự…”.

Đã xem 590 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành