Thứ tư, 19 Tháng 8 2020 07:58

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN HÀNH CHÍNH

1. Áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính 

Khảo sát thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn cho thấy hầu như các ngành, lĩnh vực, địa phương không có thống kê, báo cáo về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn rất khó khăn. Chỉ trong một số ít ngành, lĩnh vực có thống về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này. Tuy vậy, có thể rút ra một số nhận xét về thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính như sau:

Một số nơi đã có tình trạng lạm dụng áp dụng biện pháp ngăn chặn, thể hiện ở việc sử dụng các biện pháp này như là biện pháp để trừng phạt người vi phạm. Điển hình là biện pháp tạm giữ phương tiện vi phạm với thời hạn dài, được áp dụng tương đối phổ biến trong lĩnh vực an toàn giao thông bởi tính hiệu quả của nó trong việc phòng ngừa vi phạm:

Bảng số liệu xử lý vi phạm hành chính của lực lượng công an trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ năm 2009-2013

Năm

Số vụ vi phạm (vụ)

Biện pháp xử lý vi phạm hành chính

Tạm giữ phương tiện vi phạm

Hình thức xử phạt

Ô tô

Mô tô

Phương tiện khác

Tổng số

Phạt tiền (tỷ đồng)

Tước quyền sử dụng giấy phép lái xe

2009

5.589.635

19.950

750.436

-

785.386

1.342

180.781

2010

6.362.907

26.312

700.491

12.912

739.715

1.601

226.695

2011

6.067.554

22.204

531.132

4.063

557.399

1.689.172

230.717

2012

7.102.156

25.154

679.527

7.089

711.770

2.966.356

443.489

2013

5.656.410

24.635

635.220

11.851

671.706

2.331.012

378.439

Nguồn: Báo cáo công tác xử lý vi phạm giao thông đường bộ từ 2009 đến năm 2013 của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Bộ công an.

- Phân tích bảng số liệu trên cho thấy, tính bình quân cứ 9 vụ vi phạm giao thông có một vụ vi phạm áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện. Thực trạng này một phần xuất phát từ cách quy định mở rộng quyển “tùy nghi hành chính" trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, bỏ việc áp dụng chúng. Chính điều đó đã làm biến dạng trong nhiều trường hợp dẫn đến việc vượt quá giới hạn của phương tiện vi phạm. Điều 46 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 quy định biện pháp này được áp dụng trong trường hợp “cần để xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử lý hoặc ngăn chặn ngay vi phạm hành chính". Tiếp đến, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 tại Điều 125 quy định ngoài hai trường hợp trên, còn mở rộng trường hợp áp dụng biện pháp này “ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt khi người vi phạm không có giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện (trừ trường hợp quy định tại khoản 10). Cách thức quy định trong Luật như vậy xuất phát từ mục đích tạo thuận lợi cho người quản lý khiến cho người có thẩm quyền cưỡng chế có thể thực hiện việc tạm giữ rất dễ dàng nhanh chóng mà bỏ qua việc cân nhắc “có cần thiết phải áp dụng hay không?” gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người vi phạm. Thậm chí, khi không cần thiết phải duy trì biện pháp ngăn chặn nữa, các nhà chức trách cũng không hủy mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này và cưỡng chế hành chính. 

Ở một thái cực khác, cổ những biện pháp chưa được áp dụng nhiều trong thực tiễn, do tâm lý e ngại phiền phức hoặc phát sinh khiếu kiện, mặc dù có đủ điều kiện và căn cứ áp dụng Ví dụ: biện pháp khám người theo thủ tục hành chính (Điều 127 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017).

Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền còn chưa tuân thủ triệt để các quy định về thủ tục, ví dụ như pháp luật quy định thời hạn tạm giữ người không được quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm (khoản 3 Điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017), nhưng để bảo đảm thời gian tạm giữ, người có thẩm quyền đã phải cố tình “bắt người buổi sáng nhưng đến buổi chiều mới lập biên bản vi phạm"; tại nhiều địa phương, chế độ dành cho người bị tạm giữ, cơ sở vật chất (nhà tạm giữ) cho công tác tạm giữ chưa được chú trọng, quyền của người bị tạm giữ bị xâm phạm. Thực trạng này cho đến thời điểm hiện nay áp dụng các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 vẫn chưa được khắc phục. Đó chính là những biểu hiện của việc lạm dụng, vượt quá giới hạn cưỡng chế.

Thực tiễn trên cho thấy, người có thẩm quyền cưỡng chế chưa quan tâm, sử dụng biện pháp ngăn chặn, chưa phát huy được vai trò của các biện pháp cưỡng chế này trong quá trình xử lý vi phạm hành chính. Chính việc không sử dụng đồng bộ, phối hợp các biện pháp cưỡng Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và các văn bản chế trong quá trình xử lý vi phạm hành chính phần nào đã làm hạn chế hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính.

2. Pháp luật về các biện pháp ngăn chặn hành chính

 Các biện pháp ngăn chặn hành chính được quy định chủ yếu trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính. 

Điều 119 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 quy định các biện pháp ngăn tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng “áp giải người vi phạm" vào hệ thống các biện pháp ngăn chặn chủ yếu trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính. chặn hành chính gồm có: áp giải; tạm giữ người; tạm gia chỉ hành nghề khám người, khám phương tiện vận tải, để vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Biện pháp “buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính" (Điều 55) mặc dù không được quy định trong nhóm này, nhưng về bản chất nó là biện pháp ngăn chặn hành chính. Biện pháp quản lý người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất và biện pháp giao cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính cũng là biện pháp ngăn chặn hành chính, ngoài ra hai biện pháp này còn có mục đích quan trọng hơn là để bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính. 

Đối chiếu với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 cho thấy: không có sự thay đổi lớn trong các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp ngăn chặn hành chính. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 tiếp tục ghi nhận các biện pháp ngăn chặn hành chính được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008, đồng thời bổ sung thêm biện pháp để đáp ứng yêu cầu thực tế. 

Ngoài việc được quy định trong các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, biện pháp ngăn chặn hành chính còn được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, ví dụ như biện pháp “sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ được quy định trong Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; biện pháp “cấm tiếp xúc" nạn nhân của bạo lực gia đình quy định tại Điều 19 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; biện pháp “quyết định hoặc kiến nghị đình chỉ, đình chỉ có thời hạn hoạt động" quy định tại khoản 16 Điều 16 Luật Công an nhân dân năm 2018; biện pháp “buộc người có hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia rời khỏi các khu vực quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc không được rời khỏi nơi cư trú" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 21 Luật an ninh quốc gia năm 2004; vv.. 

Do tính chất của nhóm biện pháp cưỡng chế hành chính nên pháp luật quy định rất chặt chẽ, cụ thể về căn cứ áp dụng của từng biện pháp. Thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính này hẹp hơn rất nhiều so với thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt. Về thủ tục áp dụng, pháp luật không quy định một thủ tục chung cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, mà quy định thủ tục của từng biện pháp để phù hợp với đặc điểm của từng biện pháp và bảo đảm tính minh bạch của quy phạm. 

Về cơ bản, các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp ngăn chặn hành chính đã bảo đảm chặt chẽ về căn cứ áp dụng, thẩm quyền và trình tự, thủ tục áp dụng. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định pháp luật cho thấy có một số hạn chế, bất cập sau: 

Một là, pháp luật hiện hành chưa có sự phân hóa cụ thể các biện pháp ngăn chặn áp dụng với các loại đối tượng đặc thù khác nhau (ví dụ như biện pháp ngăn chặn đặc thù áp dụng cho người chưa thành niên). Hiện mới chỉ có một số quy định mang tính chất đơn lẻ trong một số giai đoạn nhất định của thủ tục áp dụng như: quy định về việc bắt buộc phải báo cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên khi quyết định tạm giữ họ vào ban đêm hoặc giữ trên sáu giờ – khoản 4 Điều 122 Luật xử lý vi phạm, hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017); chưa phân định rõ biện pháp nào áp dụng đối với phạm hành chính, biện pháp nào áp dụng đối với quá trình xem xét áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính (đặc biệt là những biện pháp hạn chế, tước quyền tự do của đối tượng vi phạm). Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền của người chưa thành niên đã được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em. 

Hai là, các biện pháp ngăn chặn hành chính của Việt Nam còn chưa đầy đủ. Trong thực tiễn quản lý nhà nước, cần phải áp dụng nhiều biện pháp ngăn chặn cần thiết như: cấm điều khiển phương tiện giao thông; cấm lưu hành; kê biên, niêm phong hàng hóa, đồ vật. Đối với biện pháp buộc đình chỉ hành vi vi phạm được quy định là một thủ tục bắt buộc trong xử phạt vi phạm hành chính, nhưng chưa được ghi nhận với tư cách là một biện pháp ngăn chặn hành chính.

Ba là, việc quy định biện pháp ngăn chặn hành chính còn chưa phù hợp với thực tế, một số biện pháp không mang tính khả thi. 

Ví dụ, biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình quy định tại Điều 19 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2008 nhằm mục đích ngăn chặn và phòng ngừa hành vi bạo lực tiếp tục xảy ra sau khi nạn nhân yêu cầu chính quyền can thiệp. Tuy nhiên, biện pháp này khó thực hiện trên thực tế trong điều kiện cơ sở vật chất Việt Nam (thiếu “nhà tạm lánh", hầu hết các gia đình chỉ có một nhà) và thiếu lực lượng giám sát để thi hành quyết định cấm tiếp xúc tại nơi nạn nhân sinh sống khí người có hành vi bạo lực gia đình không bị hạn chế quyền tự do đi lại

Ngoài ra, khảo sát các quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn hành chính còn cho thấy một số bất cập khác, ví dụ: thủ tục áp dụng biện pháp còn phức tạp (như quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi tiến hành – khoản 2 Điều 129 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017); thẩm quyền áp dụng biện pháp còn hạn chế; cơ chế bảo đảm cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn chưa được quy định (như việc áp giải đối tượng vi phạm, việc sử dụng công cụ hỗ trợ...)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Tư pháp; Báo cáo kết tình hình thực hiện 8 năm Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành, 2010

2. Phan Thị Lan Hương: “Tính hợp lý và khả thi của một số biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình", Tạp chí Luật học, số tháng 2/2009.

3. Bộ Tư pháp: Báo cáo kết quả nghiên cứu khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội, 2011

Đã xem 807 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành