Thứ ba, 25 Tháng 8 2020 08:29

Khái niệm về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Trong những năm vừa qua, sự phát triển nhanh chóng của các nền kinh tế đã tạo ra nhiều thay đổi tích cực trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó, sự gia tăng dân số, các ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn cũng gây ra không ít những tác hại về môi trường, trong đó có môi trường nước do nước thải của các nhà máy và nhu cầu sinh hoạt của người dân thải ra. Thực trạng này đặt ra một nhu cầu cấp thiết cho công tác quản lý, xử lý, khắc phục các vấn đề, nhằm bảo vệ môi trường sống. 

Hiện nay, nhà nước ta đã ra nhiều văn bản, quy định về bảo vệ môi trường, xử lý nước thải. Các hành vi vi phạm quy định về xử lý nước thải phải chịu phí nộp phạt. Cụ thể, khoản 1 Điều 148 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 quy định: “Tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường". Mức phí bảo vệ môi trường được quy định trên cơ sở khối lượng chất thải ra môi trường, quy mô ảnh hưởng tác động xấu đối với môi trường; mức độ độc hại của chất thải, mức độ gây hại đối với môi trường, sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải. Phí bảo vệ môi trường và thuế bảo vệ môi trường đều là những khoản tiền phải trả cho việc sử dụng môi trường với tư cách là nơi chứa đựng chất thải, nhưng chúng có tính chất khác nhau. Nếu như thuế bảo vệ môi trường đánh vào các sản phẩm mà khi sử dụng sẽ gây ra ô nhiễm môi trường, tức là hành vi xả thải phát sinh trong tương lai, thì phí bảo vệ môi trường lại đánh vào thời điểm xả thải và sau xả thải, tức hành vi xả thải (hoặc các hoạt động khác làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường) đã và đang xảy ra. Đây là điểm khác biệt cơ bản và quan trọng nhất giữa hai hình thức này. 

Cũng có thể phân biệt phí bảo vệ môi trường với thuế bảo vệ môi trường theo các tiêu chí khác, chẳng hạn như đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường là các sản phẩm, hàng hóa mà khi sử dụng sẽ gây ra tác động xấu đến môi trường; còn đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường là các nguồn chất thải gây ô nhiễm cũng như các nguồn tác động xấu khác đối với môi trường và cả các loại khoáng sản. Phí bảo vệ môi trường cũng khác hoàn toàn với phí dịch vụ môi trường - là một dạng phí phải trả khi sử dụng một số dịch vụ môi trường (như dịch vụ thu gom rác, dịch vụ quản lý chất thải nguy hại...), mức phí tương ứng với chi phí cho các dịch vụ môi trường đó. Phí bảo vệ môi trường có mục đích khuyến khích các nhà sản xuất, kinh doanh đầu tư giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vị ô nhiễm theo hướng tích cực, có lợi cho môi trường. Ngoài ra, phí bảo vệ môi trường còn có mục đích khác là tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước để đầu tư khắc phục, cải thiện môi trường. 

Các chính sách phí bảo vệ môi trường hiện hành đang được áp dụng đối với các nguồn gây ô nhiễm (đánh vào các chất gây ô nhiễm thải ra môi trường nước, đất, không khí) nhằm mục đích thúc đẩy các đối tượng gây ô nhiễm phải giảm thiểu khối lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và đóng góp một phần tài chính vào việc xử lý ô nhiễm môi trường do các chất thải trường, cụ thể: gây ra. Việt Nam đã triển khai thực hiện ba loại phí bảo vệ môi trường, cụ thể: 

- Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được thực hiện từ năm 2004 với mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải gây nên, sử dụng nguồn nước sạch một cách tiết kiệm và hiệu quả. Đây là loại phí bảo vệ môi trường được triển khai sớm nhất. Tuy nhiên, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện nay còn thấp, chưa đáp ứng được các chi phí xử lý nước thải đạt quy chuẩn, chưa khuyến khích được các chủ thể đầu tư chi phí thay đổi công nghệ. 

- Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được thực hiện từ năm 2007, phí thu đối với chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác. Các văn bản pháp quy về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn về cơ bản đã tạo được cơ sở pháp lý khá ổn định và vững chắc cho thực hiện. Tuy nhiên, sự phân định giữa chất thải rắn nguy hại và chất thải rắn thông thường chưa rõ nét, bởi mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hai nhóm chất thải này khác nhau. Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn không còn áp dụng từ ngày 15/6/2015 với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 38 /2015/NĐ - CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu, sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 40/2014/NĐ - CP, Điều 66 về hiệu lực thi hành có quy định: “Nghị định số 174/2007/NĐ - CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành".

Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản được thực hiện từ năm 2006, thu vào các hoạt động khai thác khoáng sản gồm các loại khoáng sản kim loại và phi kim loại. Tuy nhiên, việc quy định mức phí được tính căn cứ vào số lượng khoáng sản khai thác là không phù hợp, không có tác dụng khuyến khích việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong quá trình khai thác nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường. Bởi lẽ mức thu phí bảo vệ môi trường đối với từng hoạt động khai thác khoáng sản phải tương ứng với cấp độ gây tác hại môi trường mà hoạt động khai thác đó gây ra, chứ không nên căn cứ vào giá trị kinh tế của loại khoáng sản được khai thác để tính tương xứng. Chính vì vậy, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, là một trong những loại phí bảo vệ môi trường thực hiện trên thực tế còn nhiều hạn chế cần sửa đổi. 

Tài liệu tham khảo

1. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018

2. Nghị định số 38 /2015/NĐ - CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu, sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 40/2014/NĐ – CP

Đã xem 1117 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành