Thứ năm, 25 Tháng 2 2021 10:20

KINH NGHIỆM GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI/NGHỊ VIỆN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1. Mục đích, nội dung giám sát chính sách bảo vệ môi trường

Giám sát là một trong những chức năng của Quốc hội/Nghị viện. Mối quan hệ gắn bó giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát thể hiện ở chỗ: Quốc hội/nghị viện dùng giám sát để tìm hiểu các nội dung về chính sách bảo vệ môi trường xem các cơ quan nhà nước đã thực thi pháp luật như thế nào và luật pháp phải được hoàn thiện ra sao. Ngoài ra, Quốc hội/nghị viện còn có chức năng đại diện. Giám sát các chính sách về bảo vệ môi trường cũng gắn bó chặt chẽ với chức năng này nhờ tương tác với cử tri mà Quốc hội/nghị viện có thể xác định được chính xác, kịp thời những vấn đề cần được giám sát.

Vì vậy, để thưc hiện chức năng giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cần tập trung giám sát vào giải quyết các mảng vấn đề chính sau:

- Giám sát các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất; cải thiện chất lượng không khí, tiếng ồn, giảm thiểu hoặc loại bỏ các hóa chất độc hại[1]. Cụ thể hơn là việc quản lý chất lượng môi trường, giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái;

- Giám sát các quy định về quản lý chất thải, kể từ khi chất thải phát sinh, thu gom, xử lý...

- Giám sát các quy định về quản lý hệ sinh thái, đây là hệ thống hỗ trợ cho sự sinh tồn của con người, nơi con người sinh ra và lớn lên, vì vậy chúng ta cần quan tâm đến nó.

- Giám sát các quy định về bảo vệ đa dạng sinh học.

- Giám sát các quy định về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, động vật hoang dã: Bằng việc chia sẻ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng. bảo vệ đa dạng sinh học... kết hợp với việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường là các cách mà các quốc gia trên thế giới trong đó có châu Âu và Việt Nam thực thi các biện pháp bảo vệ môi trường. Natura 2000 là mạng lưới bao gồm 26.000 khu vực tự nhiên, chiếm khoảng 20% diện tích đất đai của Liên minh châu Âu, đang được bảo vệ, bởi đây là khu vực có hoạt động của con người xem lẫn 1 tự nhiên và rất dễ bị tổn thương[2].

- Giám sát các quy định về bảo vệ sức khỏe, phúc lợi cho người dân sống ở khu vực châu Âu. Ô nhiễm nước, không khí, hóa chất là mối quan tâm hàng đầu của con người nên các chính sách bảo vệ môi trường của châu Âu cần đạt được mục tiêu là đảm bảo an toàn nước uống và nước sinh hoạt cho người dân, cải thiện chất lượng không khí, tiếng ồn, giảm thiều hoặc loại bỏ các hóa chất độc hại[3].

- Giám sát các quy định về khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, công đồng dân cư tham gia hoạt động bảo vệ môi trường, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo vệ môi trường.

- Giám sát các quy định về xây dựng và phát triển nền kinh tế của châu Âu theo hướng tăng trưởng xanh[4] bền vững. Bảo vệ môi trường được coi là một tiêu chí mạnh trong việc cạnh tranh với các quốc gia khu vực khác trên thế giới, duy trì vị trí dẫn đầu của châu Âu. Chính sách bảo vệ môi trường là chìa khóa tạo ra việc làm, kích thích đầu tư vào châu Âu, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, tạo môi trường sống công bằng

- Giám sát các quy định về đầu tư, hỗ trợ hợp lý, kịp thời cho bảo vệ môi trường; ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường.

- Giám sát các quy định về tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường.

- Giám sát các quy định về mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường đất, nước, không khí, sử dụng bền vững đất đai, hệ sinh thái, ứng phó với thay đổi khí hậu.

- Giám sát các quy định về phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng bảo vệ môi trường

Việc tổ chức hoạt động quản lý bảo vệ môi trường khác nhau ở cấp độ khu vực và quốc gia ở châu Âu. Ở cấp độ khu vực, Ủy ban châu Âu chịu trách nhiệm điều hành chung về các vấn đề môi trường. Ở cấp độ quốc gia, cơ quan quản lý, bảo vệ môi trường của các nước thành viên được phân chia thành 2 nhóm chính, bao gồm nhóm các cơ quan quản lý môi trường là một bộ riêng biệt (14 quốc gia) hoặc bỏ kiêm nhiệm (14 quốc gia). Tuy nhiên, cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối, phần nào chỉ ra được thái độ tích cực với các vấn để môi trường. Việt Nam có cơ quan môi trường là một Bộ riêng biệt và có sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Môi trường quốc gia. Như vậy, chính sách bảo vệ môi trường có nguyên tắc, nội dung thực hiện mang tính quốc tế nhưng việc tổ chức thực hiện lại mang tính quốc gia tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội ở từng nước.

Như vậy, mục tiêu của các chính sách bảo vệ môi trường là phát triển bền vững, đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế - xã hội tạo ra các tiềm lực kinh tế để bảo vệ môi trường, còn bảo vệ môi trường tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai. Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng khu vực. quốc gia mà mục tiêu quản lý môi trường thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng.

2. Kiến nghị các giải pháp thực thi chính sách bảo vệ môi trường sau giám sát

Từ những nội dung giám sát chính sách về bảo vệ môi trường, Quốc hội/nghị viện đưa ra các khuyến nghị về các giải pháp thực thi sau giám sát. Các giải pháp thực thi chính sách bảo vệ môi trường ở châu Âu cũng như ở các quốc gia khác trên thế giới, bao gồm giải pháp điều tiết (luật pháp, tiêu chuẩn, quy chuẩn); giải pháp kinh tế; giải pháp thủ tục, công nghệ, kỹ thuật; giải pháp hợp tác (các hiệp định hợp tác), giải pháp truyền thông, thuyết phục...[5]. Đây chính là các công cụ để thực thi chính sách bảo vệ môi trường ở các quốc gia châu Âu cũng như Việt Nam.

Các giải pháp được khuyến nghị thực hiện chính sách bảo vệ môi trường[6] sau giám sát gồm:

- Giải pháp điều tiết dựa trên cơ sở Luật pháp, tiêu chuẩn, quy chuẩn nhằm điều khiển, kiểm soát, bảo vệ môi trường

- Giải pháp kinh tế dựa trên các quy định về Thuế[7], hàng rào thuế, phí, trợ cấp...

- Áp dụng công nghệ, kỹ thuật quản lý thông qua công nghệ sạch, công nghệ bảo vệ môi trường, kiểm toán, thẩm định đánh giá tác động môi trường.

- Giải pháp hợp tác thông qua các cam kết, thỏa thuận, hành động bản tròn, kế hoạch hành động, nghiên cứu.

- Giải pháp thuyền thông, thuyết phục, lôi cuốn thông qua thông tin, giáo dục, chiến dịch công cộng.

Như vậy, có thể thấy kinh nghiệm giám sát của Quốc hội/nghị viện nhằm xây dựng mức độ "can thiệp vào cộng đồng giảm dần, nhóm công cụ đầu tiên mang tính truyền thông, thường là mệnh lệnh, quy định bắt buộc người dân phải thực hiện. Nhóm công cụ kinh tế thường tác động vào "túi tiền" của các đổi tượng điều chỉnh, làm thay đổi cách thức sử dụng tài nguyên và cách thức tác động vào môi trường.

 


[1] European Union, nn. (nd.), Environment, URL: https://europa.eu/european union/topics/environment en, truy cập ngày 04/12/2017.

[2] European Union, nn. (nd.), Environment, URL: https://europa.eu/european union/topics/environment_en, truy cập ngày 04/12/2017.

[3] European Union, nn. (nd.), Environment, URL: https://europa.eu/european union/topics/environment en, truy cập ngày 04/12/2017.

[4] European Union, nn. (nd.), Environment, URL: https://europa.eu/european union/topics/ environment en, truy cập ngày 04/12/2017

[5] Böcher, Michael and Töller, Annette E., 2007, Instrumentenwahl und Instrumentenwandel in der Umweltpolitik. Ein theoretischer Erklärungsrahmen', in Klaus Jacob, Frank Biermann, Per-OlofBusch and Peter Feindt (eds.), PVS-Sonderheft Politik und Umwelt, Wiesbaden, pp. 299-322.

[6] Sophie Schmitt and Kai Schulze (2011), Choosing environmental policy instruments: An assessment of the environmental dimension' of EU energy policy, European Integration online Papers (EloP), Special Mini Issue 1, Vol. 15, Article 9, http://eiop.or.at/eiop/texte/2011-009a.htm.

[7] Thuế ở đây bao gồm thuế tài nguyên (thuế đánh vào tài nguyên kháng sản, tài nguyên rừng, thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước...).

Đã xem 12 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành