Thứ ba, 25 Tháng 3 2014 00:00

Tái cơ cấu nền kinh tế - hoạt động đầu tư ra nước ngoài

1. Những kết quả đạt được từ các dự án đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp Nhà nước nói riêng:

Hiện nay trên thị trường thế giới vị thế của nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã được nâng cao và được khẳng định thương hiệu rất nhiều. Các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng được lợi thế so sánh của một số nước để sản xuất và kinh doanh, mở rộng thị trường sản xuất đang từng bước tạo dựng được thương hiệu, khả năng cạnh tranh của mình trên trường quốc tế. Hơn nữa việc thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài cũng giúp Việt Nam có thêm nhiều bạn bè trên thế giới, mở rộng mối quan hệ kinh tế - xã hội với các nước trên thế giới.

Các dự án đưa vào khai thác và hoạt động tại nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đã có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp dầu khí thế giới. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đã có thêm hàng trăm ngàn (ha) nguyên liệu cho ngành công nghiệp cao su tại thị trường Lào và Campuchia. Còn Viettel hiện đã trở thành một trong những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông hàng đầu tại thị trường Lào và Campuchia cũng như ở một số nước châu Phi và châu Mỹ Latin.

Ngoài ra, đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có xu hướng tăng mạnh trong thời gian gần đây. Cụ thể, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã đầu tư nhiều dự án quy mô lớn tại Lào và Campuchia, Myanmar; một số nhà đầu tư khác của Việt Nam tranh thủ thị trường bất động sản thế giới sụt giảm mạnh để đầu tư mua lại một số của hàng kinh doanh, cơ sở sản xuất, trung tâm thương mại quy mô vừa và nhỏ tại Hoa Kỳ, Châu Âu, Úc để mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình ra bên ngoài.

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận với khoa học công nghệ cao, đồng thời học hỏi được những ứng dụng trong công nghệ thông tin, từ đó nâng cao năng lực của mình. Khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài vào các nước tiên tiến có công nghệ, khoa học - kỹ thuật hiện đại sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận với những thực tế ứng dụng của các thành tựu này.

2. Những tồn tại, hạn chế:

Nhiều dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài chưa đáp ứng được tiến độ cam kết. Một số dự án đầu tư quan trọng, quy mô lớn trong lĩnh vực thủy điện, khoáng sản châm được triển khai hoặc thời hạn thực hiện dự án bị kéo dài hơn so với dự kiến, làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, giảm hiệu quả đầu tư; một số dự án chưa tính toán hết được các yếu tố rủi ro cả về quy mô vốn, thị trường cũng như các điều kiện về thủ tục pháp lý, các rào cản về ngôn ngữ, văn hóa… nên khi thực hiện gặp khó khăn, gây chậm trễ trong triển khai thực hiện; một số dự án khác đi vào hoạt động nhưng hiệu quả lại không đạt yêu cầu.

Hiện tại hiệu quả vốn đầu tư của các dự án chưa cao, tỷ suất lợi nhuận và khả năng thu hồi vốn đầu tư chưa cao. Mặc dù tốc độ chuyển vốn ra nước ngoài năm sau cao hơn năm trước song tỷ suất lợi nhuận đạt tỷ lệ chưa cao.

Việc chuyển vốn đầu tư ra và chuyển lợi nhuận về của các doanh nghiệp Nhà nước tham gia vào hoạt động đầu tư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài xu hướng chung nêu trên. Hiện tượng này về ngắn hạn đã và đang tạo nên sự mất cân đối giữa dòng tiền đầu tư ra và dòng tiền chuyển về nước của các dự án đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên về lâu dài hiệu quả vốn đầu tư có thể khả quan hơn sau khi các dự án đầu tư quy mô lớn đi vào hoạt động trong những năm tới.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước thì vốn đầu tư chuyển ra nước ngoài gia tăng liên tục từ năm 2006 đến năm 2011, năm 2012 do tình hình khó khăn trong nước nên đã có sự giảm sút đáng kể. Trong khi đó, lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp có từ hoạt động đầu tư ở nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn.

Có thể thấy rằng, việc đầu tư dài hạn không thể có ngay lợi nhuận, tuy nhiên đối với doanh nghiệp Nhà nước cần hết sức thận trọng và phải tính toán kỹ vì các dự án có tổng vốn rất lớn. Do đó cần phải có những cơ chế thật cụ thể để giám sát hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước, vấn đề này cần được nhấn mạnh vì hiện nay cơ chế giám sát đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước cho các dự án trong nước còn chưa hoàn thiện.

3. Một số kiến nghị để tăng cường hiệu quả quản lý vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam:

Trước tiên cần có định hướng chiến lược rõ ràng hơn về phát triển và quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, hoạt động đầu tư ra nước ngoài mang lại nguồn tài nguyên, hàng hóa, ngoại tệ cho nền kinh tế trong nước. Thông qua hoạt động này, nền kinh tế trong nước sẽ thâm nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên, nếu không quản lý tốt và chặt chẽ, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước có thể có những rủi ro tiềm tàng về thất thoát nguồn vốn đầu tư.

Cần khẩn tương xây dựng chiến lược phát triển đầu tư ra nước ngoài để làm định hướng cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệp Nhà nước. Để đảm bảo thu được lợi ích tối đa từ những hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài, những chính sách cụ thể cho hoạt động này, trong đó có chính sách về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Nhà nước, cần phải được đặt trong chiến lược chung của Quốc gia nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế.

Cần quản lý chặt chẽ việc vốn từ Việt Nam ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước. Trong thời gian qua, nhiều dự án đầu tư ở trong nước của các doanh nghiệp Nhà nước dù đã có giám sát nhưng chỉ đạt hiệu quả kinh tế thấp, gây thất thoát, lãng phí.

Nghiên cứu xây dựng, ban hành Luật Đầu tư công và Luật đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước với các quy định rõ ràng, minh bạch về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư ra nước ngoài. Sửa đổi bổ sung Luật Đấu thầu hiện hành ở các quy định liên quan đến đấu thầu sử dụng dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp tại các dự án đầu tư ra nước ngoài có sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước.

Quy định rõ về khái niệm vốn đầu tư Nhà nước tại doanh nghiệp trong nội dung sửa đổi Luật Đầu tư 2005, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước để có cơ sở thống nhất trong việc xác định giới hạn tổng mức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, xác định cấp có thẩm quyền phê duyệt đầu tư ra nước ngoài, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn của doanh nghiệp sử dụng vốn Nhà nước đầu tư ra nước ngoài.

Bổ sung các quy định về chỉ tiêu đăng ký như: Tổng vốn đầu tư, vốn điều lệ của công ty dự án. Xác định rõ khái niệm vốn Nhà nước trong việc đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Luật Đầu tư và sốn vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp trên cơ sở xác định tổng mức đầu tư ra ngoài của doanh nghiệp. Bổ sung quy định chặt chẽ về quản lý vốn Nhà nước đầu tư ra nước ngoài, bổ sung hướng dẫn cụ thể điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư.

Đã xem 137 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành