Thứ năm, 04 Tháng 12 2014 00:00

Kinh nghiệm xây dựng chính sách thuế nhà ở, đất ở tại một số nước thế giới

1. Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới

Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại các nước thường ra đời ngay từ những buổi đầu sơ khai của hệ thống thuế và cho đến nay, các sắc thuế này đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới. Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi, việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách thuế là một đòi hỏi tất yếu, mà một trong những cơ sở quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế đó là tham khảo, học hỏi kinh nghiệm ở các quốc gia khác. Vì vậy, phần này tập trung vào sưu tầm, tìm hiểu và phân tích nội dung các chính sách thuế nhà ở, đất ở chủ yếu của 6 quốc gia và vũng lãnh thổ là: Pháp, Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan và Hàn Quốc. Luận án chọn 6 quốc gia và vùng lãnh thổ này vì hệ thống chính sách thuế có những đặc trưng nhất định, trong đó, Pháp, Hàn Quốc là quốc gia có nền kinh tế phát triển, đại diện cho các quốc gia phát triển; Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc là quốc gia có điều kiện kinh tế tương đồng với Việt Nam và Đài Loan là vùng lãnh thổ đã có hệ thống chính sách thuế đánh vào nhà, đất rất lâu đời. Việc xem xét chính sách thuế đánh vào nhà, đất ở các quốc gia và vùng lãnh thổ này cho phép rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam trong việc hoàn thiện chính sách thuế nhà ở, đất ở.

1.1. Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Cộng hoà Pháp

Tại Cộng hoà Pháp, thuế đánh vào nhà ở, đất ở được thể hiện trong các sắc thuế tiêu biểu: thuế đánh vào đất đai xây dựng, thuế nhà ở, cụ thể

a). Thuế đánh vào đất đai xây dựng: thuế đánh vào đất đai xây dựng do các chủ sở hữu đất đai nộp hàng năm. Thuế đất xây dựng được xác định bằng giá tính thuế đất nhân với thuế suất.

- Giá tính thuế được xác định bằng 50% giá trị lợi tức cho thuê đất. Lợi tức cho thuê làm căn cứ tính thuế đất được xác định theo định kỳ đánh giá giá trị đất căn cứ vào hiện trạng của tài sản, được khoán cố định trong nhiều năm. Trường hợp lợi tức cho thuê thực tế tăng hoặc giảm trên 10% so với giá trị khoán, Luật cho phép được điều chỉnh lại.

- Thuế suất cũng được xây dựng theo từng xã và được thay đổi hàng năm tuỳ thuộc vào số thu và nhu cầu chi tiêu của ngân sách xã trong từng năm. Các chủ sở hữu thuộc đối tượng nộp thuế đất phải kê khai trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hoàn thành công trình hoặc các công trình xây dựng mới cũng như mọi sự thay đổi liên quan như: công trình xây dựng thêm, phá huỷ một phần công trình, hoặc những thay đổi có liên quan đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng của nhà từ mục đích kinh doanh thương mại sang mục đích ở hoặc ngược lại.

- Miễn thuế cho các đối tượng nộp thuế là người già yếu hoặc có điều kiện khó khăn. Miễn thuế đối với một số trường hợp sử dụng đất cho mục đích cung cấp dịch vụ công cộng, hoặc được sử dụng không vì mục tiêu sinh lời của Nhà nước, chính quyền địa phương vùng, tỉnh, xã, một số tổ chức công cộng. Cũng được miễn thuế đối với nhà cao tầng, công trình phục vụ mục đích tôn giáo, đại sứ quán và các công trình xây dựng nông thôn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

b). Thuế nhà ở: đối tượng nộp thuế nhà ở là những người đang sử dụng nhà ở, dù người đó là chủ sở hữu hoặc người đi thuê. Đối tượng được miễn thuế bao gồm các đơn vị nhà nước hoạt động khoa học, giảng dạy hoặc tổ chức cứu trợ, cũng như các thành viên đoàn ngoại giao, những người nghèo hoặc người trên 60 tuổi với thu nhập thấp hơn một ngưỡng quy định.

Cơ sở tính thuế nhà ở được xác định dựa trên giá trị cho thuê của nhà ở mà không tính đến khả năng đóng góp của người nộp thuế. Do vậy, để làm cho thuế này trở nên cá nhân hơn, người ta áp dụng rất nhiều các điều khoản giảm thuế hoặc giảm thu nhập chịu thuế; một số đối tượng có thể áp dụng tự nguyện và tuỳ thuộc vào quyết định của chính quyền địa phương, một số khác là bắt buộc.

1.2. Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Hàn Quốc

Hàn Quốc hiện cũng đang vận hành chính sách thuế nhà ở, đất ở; trong đó:

- Đối tượng chịu thuế: nhà và đất do các tổ chức, cá nhân sử dụng. Hàn Quốc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý dữ liệu về nhà, đất, quản lý đối tượng nộp thuế trên phạm vi cả nước.

- Thuế suất: biểu thuế suất của Hàn Quốc được thiết kế theo hai loại tài sản đất và nhà riêng biệt: đối với tài sản là đất: thuế suất được tính từ 0,2%  đến 0,5% đối với các loại đất; 0,4% đối với đất cho sân golf; đối với tài sản là nhà: thuế suất được tính từ 0,15% đến 0,5% đối với nhà riêng; 0,25% đối với nhà chung cư; 4% đối với nhà trong khu sân golf, biệt thự, các khu vui chơi giải trí; 5% đối với nhà tại các khu đô thị lớn.

- Giá nhà, đất để tính thuế: cơ quan định giá địa phương xây dựng khung giá nhà, đất hàng năm làm cơ sở cho việc tính thuế, tuy nhiên, hệ thống giá này thấp hơn nhiều so với thị trường, chỉ khoảng 15% đến 20% giá thị trường (có hiện tượng này chính là do yếu tố chính trị, những người lãnh đạo địa phương cần sự ủng hộ của cư tri địa phương, hơn nữa là tâm lý trông chờ nguồn kinh phí từ trung ương)

- Phương pháp tính thuế: thuế nhà, đất phải nộp tính trên cơ sở cộng số thuế nhà (thuế nhà được tính bằng cách lấy diện tích nhà nhân với giá tính thuế và nhân tiếp với thuế suất) và thuế đất phải nộp (thuế đất được tính bằng cách lấy diện tích đất nhân với giá tính thuế và nhân tiếp với thuế suất).

1.3. Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Trung Quốc

Hiện nay ở Trung Quốc đang tồn tại nhiều sắc thuế khác nhau mà đối tượng chịu thuế là nhà ở và đất ở, như: thuế sử dụng đất đô thị và thị trấn, thuế sở hữu đất nông trại, thuế nhà.

a). Thuế sử dụng đất đô thị và thị trấn

- Đối tượng chịu thuế: đất ở, đất sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất tại khu vực đô thị, nông thôn.

- Thuế suất: áp dụng khung thuế suất tuyệt đối hàng năm theo diện tích đất thực tế sử dụng và phân theo từng khu vực, các địa phương căn cứ vào khung thuế suất quy định cụ thể cho địa phương mình, khung thuế suất được quy định như sau:

+ Từ 0,5 đến 10 nhân dân tệ/m2 đối với đô thị lớn;

+ Từ 0,4 đến 8 nhân dân tệ/m2 đối với đô thị trung bình;

+ Từ 0,3 đến 6 nhân dân tệ/m2 đối với đô thị nhỏ;

+ Từ 0,2 đến 4 nhân dân tệ/m2 đối với thị trấn và khu mỏ;

- Phương pháp tính thuế: thuế phải nộp tính trên cơ sở diện tích đất thực tế sử dụng nhân với mức thuế suất tuyệt đối được xác định.

- Chính sách miễn giảm thuế: thực hiện miễn giảm thuế đối với đất của các cơ quan nhà nước, quân đội, các cơ sở tôn giáo, công viên và các di tích lịch sử, công trình phúc lợi, các công trình tưới tiêu, đường phục vụ hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.

b). Thuế nhà

- Đối tượng chịu thuế: nhà ở, nhà sử dụng cho kinh doanh tại các thành phố, thị xã, thị trấn.

- Thuế suất: đối với nhà chính chủ, thuế suất là 1,2% trên giá trị ngôi nhà sau khi trừ 10% đến 30% giá trị ban đầu; đối với nhà thuê, thuế suất là 12% trên tiền thuê nhà.

- Giá nhà: do các địa phương quy định cụ thể trên cơ sở chi phí xây dựng nhà tại địa phương đó.

 - Phương pháp tính thuế: thuế phải nộp tính bằng thuế suất nhân với giá trị nhà hoặc tiền thuê nhà

- Chính sách miễn giảm thuế: không thu thuế nhà ở đối với nhà sử dụng cho các cơ quan nhà nước, quân đội; nhà cho các mục tiêu tôn giáo; nhà quản lý trong các công viên, khu di tích.

1.4. Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Đài Loan

Đài Loan là vùng lãnh thổ có chính sách thuế đánh vào tài sản từ rất lâu đời. Hiện nay, thuế đánh vào nhà ở, đất ở tại Đài Loan được thể hiện qua các chính sách thuế đánh vào đất và vào nhà.

a). Thuế đánh trên giá trị đất

- Đối tượng chịu thuế: là tất cả các loại đất không dùng vào sản xuất nông nghiệp;

- Đối tượng nộp thuế: đất thuộc sở hữu cá nhân do chủ sở hữu đất hoặc chủ cho thuê đất nộp. Đất thuộc sở hữu nhà nước do cơ quan phụ trách nộp. Đất sở hữu chung do người quản lý nộp. Đất liên doanh do các chủ sở hữu nộp thuế tính trên phần đất thuộc sở hữu của mình. Trong trường hợp chưa xác định được chủ sở hữu thì người đang sử dụng đất là đối tượng phải nộp thuế.

- Căn cứ tính thuế: thuế được xác định căn cứ vào giá trị đất tính thuế và thuế suất.

+ Giá đất tính thuế do Hội đồng định giá đất ở các địa phương chịu trách nhiệm xác định theo giá thị trường và công bố chính thức theo từng khu vực.

+ Thuế suất: đối với các loại đất thông thường, áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần từ 1,5% đến 7%. Thuế suất 1,5% chỉ áp dụng đối với trường hợp có giá trị đất thấp hơn giá trị khởi điểm được xác định trên cơ sở giá trị bình quân của 700 mét vuông đất ở, quy định cho từng tỉnh, thành phố. Đối với mảnh đất có giá trị cao hơn giá trị khởi điểm, nhưng không quá 5 lần mức khởi điểm thì nộp thêm 2% trên phần giá trị vượt. Đối với mảnh đất có giá trị vượt mức khởi điểm trên 5 lần thì cứ mỗi phần vượt 1 lần trong khung, đóng thêm 1% trên phần giá trị vượt cho đến khi đạt mức thuế suất tối đa 7%. Đối với đất ở thuộc sở hữu nhà nước chịu thuế suất

0,5% (chỉ đối với phần diện tích không quá 300m2 đối với đất đô thị và 700m2 đối với đất nông thôn). Đất thuộc công trình công cộng theo quy hoạch thành phố nếu để ở chịu thuế suất 0,5%, nếu dùng vào mục đích khác chịu thuế suất 1%. Đất do Nhà nước sở hữu và sử dụng vào mục đích công cộng theo thuế suất 1,5%.

- Miễn thuế, giảm thuế:

Đối với đất thuộc sở hữu tư nhân, được miễn thuế về phần diện tích đất của các đối tượng không kinh doanh, đất giao cho các trường tư đã đăng ký; đất trực tiếp dùng làm thư viện, viện bảo tàng khoa học, bảo tàng lịch sử của tư nhân, phòng trưng bày mỹ thuật, viện nghiên cứu khoa học; đất xây dựng bệnh viện tư, xây dựng các cơ sở nhân đạo; đường bộ, đường xe lửa do tư nhân xây dựng sử dụng cho lợi ích công cộng; đất đền chùa.

b). Thuế đánh vào nhà

- Đối tượng chịu thuế: tổng giá trị nhà và công trình kiến trúc phụ trợ.

- Đối tượng nộp thuế: là chủ sở hữu nhà hoặc chủ sử dụng nhà trong trường hợp có tranh chấp, chưa xác định được chủ sở hữu. Nếu là nhà thuê (người đứng ra thuê khu nhà trong thời hạn tối đa 30 năm), người thuê nhà là người nộp thuế và được trừ số thuế đó vào tiền thuê nhà.

- Căn cứ tính thuế: là giá trị nhà tính thuế và thuế suất.

+ Giá trị nhà tính thuế: là giá do Hội đồng định giá BĐS quy định, có tham khảo giá thị trường. Hội đồng định giá BĐS được thành lập ở mỗi tỉnh, thành phố, trong đó, tối thiểu 2/5 số thành viên là đại diện Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, ngoài ra còn có các chuyên gia về xây dựng.

Giá trị nhà tính thuế được căn cứ vào các tiêu chuẩn về loại nhà và cấp nhà theo tính chất của vật liệu xây dựng; tuổi thọ của nhà và tiêu chuẩn, tỷ lệ khấu hao áp dụng; giá chuẩn của nhà căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, các yếu tố về địa điểm kinh doanh, trục đường giao thông trong khu vực, so sánh với giá nhà thuộc khu vực khác trong vùng sau khi đã trừ giá trị đất đã xây dựng nhà trên đó. Giá trị nhà chịu thuế sẽ được trừ khấu hao theo thời gian. Khi chỉ số giá tăng, giảm trên 30% thì giá nhà chuẩn phải điều chỉnh lại và giá trị hiện tại của nhà sẽ được điều chỉnh theo thời hạn khấu hao và mức khấu hao.

 + Thuế suất: Luật quy định khung thuế suất. Trên cơ sở khung thuế suất do

Luật định, các chính quyền địa phương quy định mức thuế suất cụ thể áp dụng cho địa phương mình. Cụ thể: đối với nhà ở chung, thuế suất từ 1,38% đến 2% trị giá nhà, nếu nhà do chính chủ ở, mức thuế suất không quá 1,38%; đối với nhà dùng làm nơi kinh doanh: thuế suất từ 3% đến 5%; đối với nhà sử dụng làm phòng khám bệnh, phòng hành nghề của tư nhân không vì mục đích kinh doanh, thuế suất từ

1,5% đến 2,5% giá trị nhà.

- Miễn thuế, giảm thuế: thuế được miễn, giảm cho những nhà được sử dụng vào mục đích công cộng của Nhà nước, của lực lượng vũ trang, tổ chức giáo dục, y tế, xã hội, giáo dục, nhà của Chính phủ dành cho người nghèo, tôn giáo, thờ cúng, nhà để ở có giá trị ít hơn 54.000 Đài tệ...

Thuế nhà được giảm 50% đối với nhà ở mà Nhà nước bán cho dân với giá hạ; nhà để sản xuất, làm kho; nhà bị thiệt hại từ 30% đến 50% giá trị.

- Thu nộp thuế: thuế nhà được thu hàng năm. Trong vòng 1 tháng kể từ khi nhận được thông báo nộp thuế của cơ quan thuế, đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp đủ số thuế vào kho bạc.

1.5. Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Indonesia

Thuế đánh vào nhà ở, đất ở đặc trưng nhất ở Indonesia là thuế BĐS hay còn gọi là thuế nhà, đất. Sắc thuế này đã được áp dụng từ lâu đời. Đến nay, những nội dung chủ yếu của sắc thuế này bao gồm:

Thuế BĐS Indonesia được áp dụng theo giá trị trên thị trường vốn đối với tất cả đất đai và công trình xây dựng trên toàn quốc, ngoại trừ BĐS thuộc các nhóm được miễn thuế theo quy định cụ thể trong Luật thuế BĐS.

- Đối tượng chịu thuế: tất cả đất đai, công trình xây dựng của các pháp nhân và thể nhân.

- Đối tượng không chịu thuế: bao gồm BĐS sử dụng làm hàng hoá công của tổ chức văn hoá quốc gia, giáo dục, y tế, xã hội và tôn giáo phi lợi nhuận; nghĩa trang; rừng tự nhiên được bảo vệ hoặc rừng phục vụ du lịch; công viên quốc gia; đất công của làng; đất quốc gia chưa quy định quyền cá nhân; ngoại giao đoàn và các tổ chức kinh tế được chỉ định đặc biệt; công trình xây dựng có giá trị dưới 7 triệu Ropiah.

 - Đối tượng nộp thuế: các tổ chức, cá nhân thực sự có quyền sở hữu đất đai,  và/hoặc có lợi ích từ đất đai, và/hoặc sở hữu, kiểm soát, và/hoặc có lợi ích từ công trình xây dựng đều là đối tượng phải nộp thuế BĐS. Nếu không rõ ai là người nộp thuế cho một BĐS nào đó thì Tổng cục trưởng Tổng cục thuế có thể chỉ định chủ thể nộp thuế cho BĐS đó và biên lai nộp thuế BĐS trong trường hợp này không phải là bằng chứng về quyền sở hữu.

- Giá tính thuế: Đối với công trình xây dựng, giá tính thuế được xác định căn cứ vào đơn giá xây dựng trung bình trên thị trường, tuỳ loại kết cấu công trình, trang bị nội thất, hệ thống cung cấp điện nước. Đối với đất ở, giá tính thuế chủ yếu xác định theo giá thị trường tuỳ theo vị trí đất.

- Thuế suất: áp dụng chung một mức là 0,5% cho đất và công trình xây dựng, nhưng chỉ tính trên 20% giá trị đất và công trình xây dựng tính theo giá thị trường.

- Thu, nộp thuế: Chính quyền địa phương có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế tuyên truyền giải thích chính sách cho người nộp thuế, tham gia phân loại nhà đất, chuyển thông báo cho người nộp thuế, hỗ trợ đôn đốc thu nộp thuế. Số thuế thu được từ thuế nhà, đất được trích ra 9% để bù đắp chi phí thu thuế. Số còn lại được phân phối cho các cấp ngân sách theo tỷ lệ: cấp trung ương 10%, cấp tỉnh 16,2%, cấp huyện 64,8%.

Như vậy, chính sách thuế BĐS của Indonesia có những điểm tương đồng với chính sách thuế nhà, đất của Việt Nam, mặc dù hiện tại Việt Nam không công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai và chưa có các quy định về thuế đánh vào nhà. Khi hoàn thiện chính sách thuế đánh vào tài sản ở Việt Nam, các nội dung của sắc thuế này ở Indonesia sẽ là một tài liệu tham khảo quý giá.

1.6. Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Thái Lan

Thái Lan cũng đang vận hành sắc thuế tài sản, không tách riêng nhà và đất khi đánh thuế.

- Đối tượng chịu thuế: nhà và đất để ở, hay sử dụng vào mục đích thương mại do các tổ chức, cá nhân sử dụng.

 - Thuế suất: Biểu thuế suất của Thái Lan được thiết kế theo mục đích sử dụng: thuế suất dưới 0,5% đối với nhà đất sử dụng cho mục đích thương mại; 1% đối với đất không sử dụng, đất bỏ hoang; dưới 0,1% đối với nhà đất ở thành thị; dưới 0,05% đối với nhà đất ở nông thôn.

- Giá nhà, đất để tính thuế: Giá này ở Thái Lan do các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương xác định và công bố theo định kì 3 năm một lần.

- Phương pháp tính thuế: thuế phải nộp tính trên cơ sở giá trị nhà, đất nhân với thuế suất quy định.

- Chính sách miễn giảm thuế: Thái Lan cũng thực hiện chính sách miễn thuế nhà đất đối với công trình công cộng, nhà đất của vua, của chính quyền...

2. Những bài học rút ra cho Việt Nam từ việc nghiên cứu chính sách thuế nhà ở, đất ở của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới

Từ việc nghiên cứu chính sách thuế nhà ở, đất ở của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong  việc hoàn thiện chính sách thuế nhà ở, đất ở như sau:

- Bài học kinh nghiệm 1: chính sách thuế BĐS nói chung và chính sách thuế nhà ở, đất ở nói riêng là những chính sách thuế đã tồn tại từ lâu trên thế giới. Trong quá trình phát triển, các quốc gia luôn nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các sắc thuế nhà ở, đất ở như: thuế đăng ký nhà ở, đất ở; thuế sử dụng nhà ở; thuế sử dụng đất ở; thuế thừa kế, cho tặng nhà ở, đất ở; thuế chuyển nhượng nhà ở, đất ở nhằm góp phần quản lý và điều tiết kinh tế nói chung và thị trường nhà ở, đất ở nói riêng. Việc cải cách chính sách thuế nhà ở, đất ở là tất yếu, khách quan.

- Bài học kinh nghiệm 2: thuế nhà ở, đất ở là nguồn thu quan trọng cho ngân sách địa phương, nhưng không vì thế mà nóng vội trong việc nghiên cứu nhằm cải cách triệt để hệ thống thuế này, bởi lẽ việc cải cách còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như chính trị, kinh tế, xã hội, nhận thức của người dân,… và đặc biệt là công tác quản lý nhà ở, đất ở. Do đó, cải cách cần tiến hành từng bước, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và trình độ quản lý nhà ở, đất ở.

 - Bài học kinh nghiệm 3: các sắc thuế nhà ở, đất ở được xây dựng độc lập hay kết hợp với một số chính sách thu khác đối với BĐS tùy thuộc vào mục đích của nhà nước, điều kiện thực tế và tập quán của mỗi nước, nhưng cơ sở tính thuế nhà ở, đất ở phải là giá trị của nhà ở, đất ở. Việc áp dụng thuế suất lũy tiến là cần thiết nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng nắm giữ, chuyển dịch nhà ở, đất ở, hạn chế việc đầu cơ nhà ở, đất ở và thúc đẩy việc sử dụng nhà ở, đất ở. Tuy nhiên, các bậc giá trị tính thuế và các mức thuế suất cụ thể cần phải được nghiên cứu cụ thể trong mối quan hệ với các sắc thuế đánh vào thu nhập và khả năng nộp thuế trong dân cư. Trong một số trường hợp, tuỳ theo các mục tiêu và cách thức quản lý cụ thể có thể xây dựng biểu thuế với thuế suất tỷ lệ ổn định đối với từng loại tài sản.

- Bài học kinh nghiệm 4: các yếu tố để làm căn cứ tính thuế nhà ở, đất ở là diện tích, giá nhà ở, đất ở và thuế suất. Việc định giá nhà ở, đất ở để đánh thuế phải phù hợp với giá trị thị trường nhằm đảm bảo công bằng, hạn chế các hiện tượng tiêu cực gây thất thoát nguồn thu. Mức thuế suất cho thuế nhà ở, đất ở phải phù hợp giá trị kinh tế mà nhà ở, đất ở có thể mang lại và có sự điều chỉnh hợp lý theo sự phát triển của nền kinh tế địa phương.

- Bài học kinh nghiệm 5: để quản lý và ổn định thị trường nhà ở, đất ở, thì nhà nước nên đưa ra các mức thuế suất cao đối với những nhà ở, đất ở sử dụng không đúng mục đích, hoặc bỏ hoang.

- Bài học kinh nghiệm 6: nhìn chung các quốc gia đều xây dựng các mức miễn trừ, các trường hợp miễn thuế và các trường hợp giảm thuế. Do vậy, thuế đánh vào tài sản ở Việt Nam cũng phải tính đến các quy định này. Vấn đề quy định như thế nào, đối tượng, trường hợp, mức miễn trừ, miễn, giảm thuế phải dựa vào các cơ sở lý luận, sự đồng bộ trong hệ thống các chính sách, đời sống dân cư, các mục tiêu quản lý cụ thể.

- Bài học kinh nghiệm 7: Thuế đánh vào việc đăng ký nhà ở, đất ở sẽ đánh một lần. Đối tượng nộp thuế khi có nhà ở, đất ở chịu thuế phải thực hiện kê khai với cơ quan thuế và nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế hoặc theo số liệu kê khai. Còn đối với thuế sử dụng nhà ở, đất ở thì khoản thuế này thường được thu hàng năm, có thể được ổn định trong một thời gian nhất định hoặc thay đổi theo thời gian tuỳ theo mức độ sử dụng hoặc biến động của giá cả thị trường. Việc quản lý thu thuế do cơ quan thuế địa phương nơi phát sinh các giao dịch hoặc có nhà ở, đất ở chịu thuế đảm nhận. Nguồn thu từ thuế có thể được sử dụng cho ngân sách địa phương hoặc được phân bổ giữa các cấp ngân sách khác nhau.

Đã xem 298 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành