Thứ ba, 07 Tháng 7 2015 00:00

Cải cách tư pháp và vấn đề thi hành án xét từ góc độ của luật kinh tế - dân sự

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

1. Vấn đề cải cách tư pháp:

Trong Nghị quyết số 49 ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã xác định nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2020 của Cải cách tư pháp là: “ Xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.”

Bộ chính trị đề ra mục tiêu chiến lược là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của một xã hội đang thực hiện đường lối đổi mới một cách toàn diện. Phù hợp với thể chế của Nhà nước pháp quền nhân dân và cũng phù hợp với trào lưu phát triển chung của đất nước, trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, từ văn bản đến việc đưa nghị quyết vào thực tế là cả một quá trình đấu tranh lâu dài và quyết liệt. Cái cũ luôn luôn tìm cách cản trở cái mới, trước hết là từ nhận thức, tư duy của những người trong cuộc. Tư tưởng và cách thức hoạt động cũ đã hằn sâu vào tiềm thức thì không hề đơn giản để gạt bỏ và tiếp thu cái mới. Sự phát triển của đất nước, của xã hội không đồng đều cũng là một sự cản trở khác không kém phần quan trọng; không đồng đều giữa miền núi với đồng bằng, giữa nông thôn với thành phố. Phát triển không đồng đều trong đời sống vật chất cũng tạo ra sự khác biết rất lớn ý thức pháp luật, trình độ dân trí và trong chất lượng cuộc sống. Những khác biệt này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, các nhà thực thi chính sách không thể không tính đến và không được phép bỏ qua.

2. Vấn đề thi hành án kinh tế - dân sự:

Mọi nền kinh tế, bất luận là kinh tế kế hoạch hóa tập trung như trước đây hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đều không thể tồn tại và phát triển nếu không dựa vào pháp luật. Tuy nhiên, do nền kinh tế thị trường, xét về bản chất, là một nền kinh tế tự thân vận động là chủ yếu nên so với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây thì nền kinh tế này cần pháp luật hơn nhiều.

Vai trò của pháp luật đối với nền kinh tế thị trường được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:

- Dựa vào pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường sẽ được nhà nước đánh giá và ghi nhận. Nhà nước sẽ không thể thiết kế được một mô hình kinh tế là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lý tưởng tại Việt Nam nếu như không có những nguyên tắc cơ bản như tự do sở hữu, tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, tự do cạnh tranh.

- Đặc trưng của nền kinh tế thị trường chính là nền kinh tế tự thân vận động là chủ yếu, nhưng không có nghĩa là bỏ qua sự quản lý, điều hành và can thiệp của Nhà nước. Các cơ quan trong bộ máy quản lý kinh tế được Nhà nước quy định địa vị pháp lý một cách đầy đủ, rõ ràng, giúp bộ máy này dù có phức tạp, cồng kềnh đến đâu vẫn có được sự đồng bộ về mặt tổ chức, thông suốt trong điều hành, góp phần làm cho việc quản lý nền kinh tế trở nên có hiệu quả.

- Doanh nghiệp là thành phần cốt lõi trong nền kinh tế thị trường. Để góp phần cá thể hóa các chủ thể tham gia quan hệ thị trường với nhau và với các cơ quan hành chính, Nhà nước tạo lập ra các loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh làm cho các chủ thể này tuy khác nhau về tên gọi, về hình thức tổ chức, quy mô, lĩnh vực, hình thức sở hữu nhưng vẫn có được sự độc lập về mọi mặt để có thể tham gia vào quan hệ thị trường một cách bình thường. Điều đó có nghĩa là không có pháp luật để xác định một cách rõ ràng địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh, thì các chủ thể này sẽ không thể thiết lập các quan hệ trao đổi hàng hóa - loại quan hệ chủ yếu nhất và phổ biến nhất của nền kinh tế thị trường.

- Pháp luật là cơ sở để Nhà nước quy định các biện pháp chế tài trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật từ phía các doanh nghiệp, góp phần bảo đảm cho quan hệ thị trường được ổn định, không bị tùy tiện vi phạm.

Bên cạnh những thành công cơ bản, pháp luật kinh tế hiện hành của Việt Nam vẫn còn một số hạn chế sau đây:

- Nội dung nhiều đạo luật còn sơ sài, do đó cần phải ban hành nhiều văn bản dưới luật để cụ thể hóa và điều này đã làm chậm quá trình thực thi luật vào cuộc sống.

- Chưa đảm bảo được tính đồng bộ trong pháp luật kinh tế cho nên nhiều quy định mang tính nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật chưa được thực thi. Chẳng hạn, luật quy định không được kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật cấm, nhưng cũ thể những ngành nghề đó là gì thì lại chưa được xác định một cách rõ ràng. Nguyên tắc tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp đã không được thực hiện một cách dễ dàng, triệt để khi mà tính đồng bộ giữa luật và các văn bản hướng dẫn luật chưa được đảm bảo.

- Về mặt nội dung, nhiều quy định không phù hợp với thực tế. Nguyên nhân chính là do chưa thực hiện tốt việc đánh giá, khảo sát thực tiễn về những vấn đề có liên quan. Chẳng hạn, vốn pháp định đối với một ngành nghề nhiều khi được xác định một cách tùy tiện, cao thấp rất khác nhau nhưng không được lập luận một cách thuyết phục, dẫn đến việc không nhận được sự đồng tình của các doanh nhân. Các điều kiện kinh doanh khác, nhất là trong các lĩnh vực kinh doanh chuyên ngành, nhiều khi được xác định một cách tùy tiện và không được lập luận một cách thuyết phục, và hậu quả là đã cản trở một cách bất hợp lý quyền tự do kinh doanh đã được ghi nhận trong Hiến pháp.

-Việc xây dựng và hoàn thiện các thiết chế thực thi pháp luật diễn ra chậm làm ảnh hưởng nhất định đến việc thực thi pháp luật kinh tế ở Việt Nam. Luật phá sản 2014 đã thay thế chế định tổ quản lý và thanh lý tài sản bằng một chế định mới là quản tài viên. Tuy nhiên cho đến tận bây giờ, đội ngũ này vẫn chưa được xây dựng và đào tạo một cách bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ. Vì vậy, việc thực thi luật này đã và đang gặp nhiều khó khăn. Tình trạng này cũng có ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện các mục tiêu mà việc đăng ký nêu trên phải đảm nhiệm.

Phương hướng hoàn thiện:

- Vai trò của luật với tư cách là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phải được đề cao hơn nữa, ngoài ra việc tăng cường ban hành luật để thay thế dần các hình thức văn bản quy phạm pháp luật khác cũng là một điểm cần chú ý. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc luật càng cụ thể càng tốt để trên cơ sở đó, giảm dần và tiến tới xóa bỏ việc ban hành các văn bản dưới luật, khắc phục tình trạng cồng kềnh, không đồng bộ, tính khó tiếp cận của hệ thống pháp luật kinh tế nước ta.

- Để đảm bảo pháp luật kinh tế không chỉ phải phù hợp với thực tiễn Việt Nam, mà còn phải đảm bảo sự tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới, vì đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam cần loại bỏ càng sớm càng tốt tất cả những gì cản trở quyền tự do kinh doanh, sở hữu, cản trở cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, xây dựng pháp luật kinh tế để thúc đẩy sự vận hành và phát triển của nền kinh tế thị trường theo hướng văn minh.

- Việc tiếp tục xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp bên cạnh việc tăng cường ban hành luật là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc. Tăng cường học tập kinh nghiệm lập pháp, thể chế của các nước có điều kiện kinh tế, xã hội giống như Việt Nam để bảo đảm tính khoa học, tính hội nhập của pháp luật nước ta với pháp luật của thế giới.

Đã xem 223 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành