Thứ tư, 08 Tháng 7 2015 00:00

Một số nội dung về hoàn thiện tổ chức hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn tới

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

1. Vấn đề tổ chức hệ thống các cơ quan Điều tra

Hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan điều tra hình sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Yêu cầu của việc cải cách tư pháp là khắc phục những hạn chế, bất cập của thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có cơ quan điều tra hình sự, đồng thời tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu, tổ chức theo quan điểm của Đảng.

Mô hình tổng thể cơ quan điều tra hình sự theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự hiện hành về cơ bản tương đối hợp lý. Tuy nhiên, để hoàn thiện và khoa học hơn chỉ nên duy trì tổ chức cơ quan điều tra hình sự trong Công an nhân dân và cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân. Đề nghị không tổ chức cơ quan điều tra hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương, bởi vì điều tra án hình sự không phải là chức năng của Viện kiểm sát. Chức năng của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Với chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát vẫn có quyền thu thập chứng cứ để làm căn cứ cho việc ra quyết định truy tố hoặc không truy tố bị can sau khi thụ lý hồ sơ vụ án từ cơ quan điều tra hình sự. Theo quy định tại Điều 65 Bộ Luật tố tụng hình sự về thu thập chứng cứ, “Để thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra hình sự, Viện kiểm sát và Tòa án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động khác theo quy định của Bộ luật tố tụng; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án”. Nghĩa là pháp luật tố tụng hình sự có quy định cho phép Viện kiểm sát thu thập chứng cứ, yêu cầu cơ quan điều tra hình sự thu thập chứng cứ, nên không cần thiết phải có cơ quan điều tra hình sự của Viện kiểm sát để thực hiện các biện pháp này. Thực tế hoạt động tăng cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát sau khi thụ lý hồ sơ cùng Bản kết luận điều tra không có gì vướng mắc, bất cập.

Như vậy, không phải cơ quan điều tra hình sự của Viện kiểm sát tiến hành điều tra vụ án hình sự về tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp thì khách quan hơn. Việc tiến hành tố tụng có khách quan hay không phụ thuộc vào “cái tâm” của người cán bộ được giao nhiệm vụ điều tra vụ án, chứ không phụ thuộc vào cơ quan nào điều tra vụ án. Mặt khác, nếu theo lý luận nêu trên, thì Tòa án xét xử cán bộ Tòa án phạm tội sẽ thiếu khách quan và cần phải thành lập Tòa án chuyên trách để xét xử cán bộ Tòa án phạm tội.

Thực tiễn có rất ít vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự Viện kiểm sát nên không cần thiết phải tồn tại một bộ máy. Tuy nhiên, do ít, thậm chí là không có vụ án nào trong thời gian dài nên hoàn toàn có cơ sở để đặt câu hỏi về “chất lượng tay nghề, kinh nghiệm điều tra” của điều tra viên cơ quan điều tra hình sự Viện kiểm sát và cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội khi so sánh với đội ngũ điều tra viên cơ quan điều tra hình sự Công an nhân dân.

Bên cạnh đó, với quy định hiện hành thì sau khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự Trung ương quyết định truy tố vụ án ra Toà án cấp có thẩm quyền và uỷ quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện quyền công tố. Điều này dẫn tới có trường hợp kiểm sát viên thực hành quyền công tố không làm chủ được hồ sơ, tham gia tranh tụng tại phiên toà rất hạn chế, nhất là trường hợp luật sư tranh luận về những chứng cứ mới được cung cấp tại toà. Ở đây còn một vấn đề cần nghiên cứu là Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự Trung ương có quyền truy tố vụ án hình sự ra Tòa án hay không, nếu không, thì tại sao lại có quyền ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện một việc mà mình không được làm.

2.Vấn đề tổ chức hệ thống các Viện Công tố

Về phân cấp nếu căn cứ vào thẩm quyền công tố thì hệ thống các Viện Công tố theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW phải phù hợp với hệ thống Toà án nên từ cấp thấp nhất đến cấp trung ương song song với bốn cấp của hệ thống Toà án nó sẽ bao gồm bốn cấp của Viện Công tố tương ứng như sau: các Viện Công tố sơ thẩm khu vực; các Viện Công tố phúc thẩm; Các Viện Công tố thượng phẩm khu vực và Viện Công tố trung ương.

Về chức năng, Viện công tố các cấp chỉ thực hiện chức năng công tố trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà không thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp như hiện nay. Bởi vì bản chất của công tố là đại diện cho quyền lực công, đại diện cho Nhà nước truy tố đối với các cá nhân, tổ chức có các hành vi bị coi là xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Phạm vi thực hành quyền công tố cũng chỉ giới hạn trong lĩnh vực tố tụng hình sự, còn trong các vụ án phi hình sự thì Viện Công tố chỉ thực hiện chức năng của luật sư công để đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích công của Nhà nước.

Tuy nhiên, do Viện Công tố thực hiện chức năng buộc tội nên chức năng của cơ quan Điều tra và cơ quan Công tố có liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau. Khâu điều tra là tiền đề, cơ sở để thực hiện quyền công tố.

Về cơ cấu chuyên môn, nghiệp vụ, để đảm bảo việc thực hành quyền công tố theo luật định thì trong hệ thống Viện Công tố trung ương sẽ thành lập bốn Cục chuyên trách sau: Cục thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia; Cục thực hành quyền công tố đối với các tội phạm trong các lực lượng vũ trang nhân dân; Cục thực hành quyền công tố đối với các tội phạm hình sự thường; và Cục thực hành quyền công tố đối với các tội phạm tham nhũng.

Về chức năng phối hợp, việc thành lập các Viện Công tố thành một hệ thống chặt chẽ từ trung ương xuống đến các cấp tương ứng với hệ thống Toà án là nhằm đảm bảo sao cho hệ thống các cơ quan Viện Công tố phải là cơ quan chủ đạo, quan trọng trong hệ thống của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật trong cả nước đồng thời phối hợp hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm; Bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế, đồng thời hỗ trợ tích cực cho việc xét xử của Toà án đạt hiệu quả cao.

3.Vấn đề tổ chức hệ thống các Toà án chung:

Về tính chất, hệ thống Toà án nhân dân ở Việt Nam theo Luật mới sẽ là hệ thống Toà án chung vì các Toà án này sẽ được tổ chức và hoạt động theo thẩm quyền xét xử nên sẽ xét xử cả các tội phạm trong các lực lượng vũ trang nhân dân.

Về phân cấp, nếu căn cứ vào thẩm quyền xét xử thì hệ thống Toà án chung ở Việt Nam sẽ được tổ chức thành bốn cấp là: các Toà án sơ thẩm khu vực thực hiện chức năng xét xử lần đầu các vụ án theo thẩm quyền; các Toà án phúc thẩm thực hiện chức năng chủ yếu là xét xử lần thứ hai các vụ án mà Toà án khu vực đã xét xử nhưng bản án hoặc quyết định bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đồng thời các Toà án phúc thẩm cũng có cả chức năng xét xử lần đầu một số vụ án theo thẩm quyền; các Toà án thượng thẩm khu vực thực hiện chức năng xét xử lần thứ hai các vụ án mà Toà án phúc thẩm đã xét xử lần đầu nhưng bản án hoặc quyết định bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị và Toà án nhân dân tối cao thực hiện bốn chức năng; tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ, đồng thời xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm tất cả các vụ án do các Toà án ba cấp dưới xét xử nhưng bị kháng nghị.

4. Vấn đề tổ chức hệ thống các cơ quan Thi hành án:

Luật thi hành án hình sự năm 2010 chưa quy định trường hợp nhận ủy thác thi hành án đối với án treo mà người bị kết án chuyển nơi cư trú ngoàiphạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trước khi Tòa án nhận ủy thác ra Quyết định thi hành án thì xử lý như thế nào. Khi nhận được Quyết định ủy thác thi hành án thì Tòa án nhận ủy thác ra quyết định thi hành án và gửi cho Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người bị kết án treo cư trú. Theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật thi hành án hình sự năm 2010 thì trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ triệu tập người được hưởng án treo. Tuy nhiên, cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện đã tiến hành xác minh người bị kết án không còn cư trú ở địa phương trước thời điểm Tòa án nhận ủy thác ra quyết định thi hành án.

Như vậy, theo quan điểm của Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện khi nhận được Quyết định thi hành án của Tòa án thì Cơ quan thi hành hình sự cấp huyện phải triệu tập được người bị kết án treo để lập hồ sơ đầy đủ theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật thi hành án hình sự năm 2010. Do người bị kết án treo chuyển nơi cư trú trước khi Tòa án nhận được quyết định ủy thác nên Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện không thể lập hồ sơ đầy đủ theo khoản 1 Điều 62 nên Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú sẽ không tiếp nhận hồ sơ để tiếp tục thi hành. Ngoài ra, trong quá trình thi hành án người bị kết án treo chuyển nơi cư trú thì mới áp dụng trường hợp tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự năm 2010. Nếu người bị kết án chuyển nơi cư trú trước khi Tòa án ra Quyết định thi hành án thì không áp dụng khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự năm 2010. Do đó, đối với trường hợp trên thì Cơ quan Thi hành hình sự cấp huyện trả lại hồ sơ cho Tòa án để Tòa án chuyển trả lại hồ sơ thi hành án cho Tòa án đã ủy thác để Tòa án đã ủy thác tiếp tục ủy thác cho Tòa án nơi người được hưởng án treo đến cư trú ra quyết định thi hành án.

Đã xem 1648 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành