In trang này
Thứ bảy, 16 Tháng 7 2016 02:35

Kiến nghị hoàn thiện tính độc lập của hệ thống thực hiện trợ giúp pháp lý

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Ở các nước trên thế giới, chế định trợ giúp pháp lý (TGPL)  là một chế định được hình thành tương đối sớm, thể hiện chức năng xã hội và trách nhiệm của Nhà nước giúp những người không đủ điều kiện về tài chính vẫn có khả năng tiếp cận công lý. Căn cứ theo điều kiện kinh tế- xã hội, lịch sử, văn hóa của từng quốc gia, các quốc gia xây dựng mô hình TGPL riêng nhưng tựu chung lại cùng một mục đích nhân đạo, bảo đảm công bằng trong xã hội .

Trên thế giới tồn tại hai loại hình cơ quan trợ giúp pháp lý là cơ quan trợ giúp pháp lý ở trung ương đồng thời thực hiện chức năng quản lý và chức năng trợ giúp pháp lý và loại hình thứ hai là các cơ quan trợ giúp pháp lý ở trung ương chỉ thực hiện chức năng quản lý. Ở loại hình thứ nhất, có thể nói rằng Nhật Bản là quốc gia điển hình cho mô hình này. Hệ thống trợ giup pháp lý của Nhật bản được tổ chức theo ngành dọc, theo đó cơ quan Trợ giúp pháp lý Nhật Bản là cơ quan thực hiện chức năng quản lý và chức năng TGPL đồng thời. Cơ quan này thành lập các tổ chức tiếp thực hiện TGPL là các Trung tâm TGPL, các chi nhánh, Văn phòng luật trên khắp lãnh thổ Nhật bản. Bên cạnh Nhật Bản, Bang Victory của Úc cũng áp dụng mô hình này. Cơ quan TGPL của Canada là cơ quan được thành lập trên cơ sở của pháp luật, hoạt động độc lập với Chính phủ, cung cấp dịch vụ pháp lý , quản lý các nguồn lực để thực hiện hoạt động TGPL bảo đảm sự bình đẳng trong việc tiếp cận công lý, đảm bảo cho hệ thống TGPL hoạt động một cách có hiệu quả đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân. Loại hình thứ hai, các cơ quan TGPL ở Trung ương chỉ thực hiện chức năng quản lý, tức là việc thực hiện TGPL và quản lý nhà nước về TGPL độc lập hoàn toàn với nhau. Việc thực hiện TGPL do một hệ thống các cơ quan thực hiện, ví dụ như ở Ailen hệ thống TGPL thực hiện theo ngành dọc, có Hội đồng TGPL và các trung tâm làm việc chuyên nghiệp và các trung tâm làm việc bán thời igan, nhân viên của Trung tâm được trả lương từ ngân sách nhà nước, ngoài ra luật sư cộng tác viên được trả lương hàng tháng hoặc trả lương theo vụ việc TGPL. Một số nước khác như Agrentina, Braxin thì Văn phòng luật sư liên bang có trách nhiệm bảo đảm việc tiếp cận công lý của người dân đặc biệt người cần được hỗ trợ TGPL

Ở Việt Nam, hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công, người thuộc diện chính sách, người dân tộc thiểu số…. được thành lập theo Quyết định số 734/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hệ thống tổ chức TGPL của Việt Nam bao gồm Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về TGPL và trong trường hợp cần thiết trực tiếp tham gia TGPL, ở địa phương thì Trung tâm TGPL nhà nước thuộc Sở Tư pháp có chức năng thực hiện TGPL cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng….

Điều 13 Luật Trợ giúp pháp lý 2006 quy định: “1. Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. 2. Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm: a) Tổ chức hành nghề luật sư; b) Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật)”.  Trung tâm TGPL thuộc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập. Trung tâm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng thời chịu trách nhiệm về hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn của Bộ Tư pháp. Ở một số địa phương, căn cứ nhu cầu thực tế của mình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập chi nhánh của Trung tâm theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp. Theo Báo cáo tổng kết thi hành 08 năm triển khai thi hành Luật TGPL số 158/BTP-TGPL hiện nay trên toàn quốc có 63 Trung tâm TGPL thuộc Bộ Tư pháp và 201 Chi nhánh ở cấp huyện và liên huyện. Trung tâm TGPL là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, biên chế và kinh phí do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định như vậy không bảo đảm tính khách quan, độc lập trong việc thực hiện TGPL đặc biệt trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo hành chính, gây cản trở tới chất lượng, hiệu quả của hoạt động TGPL. Thêm vào đó, các Trung tâm là đơn vị sự nghiệp không có thu nên kinh phí hoạt động phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, với yêu cầu tăng cường việc bảo đảm hoạt động TGPL góp phần đảm bảo thực hiện các chính sách nhân đạo, bình ổn xã hội, hoạt động TGPL ngày càng được chú trọng, ngân sách dành cho TGPL ngày càng được tăng cường, ngân sách cấp cho hoạt động TGPL do ngân sách địa phương cấp theo quy định về phân cấp quản lý, tuy nhiên do những nhận thức về tầm quan trọng của một số địa phương về TGPL là khác nhau nên ở một số nơi ngân sách dành cho hoạt động này chưa thực sự hợp lý để hoạt động TGPL đạt được hiệu quả nhất định. Các Chi nhánh được thành lập nhiều, nhưng ở một số nơi việc tổ chức bộ máy, quy hoạch chưa hiệu quả, hoạt động của một số Chi nhánh chưa đáp ứng được chất lượng; việc tổ chức thực hiện TGPL ở nhiều địa bàn còn mang tính tuyên truyền, phố biến giáo dục pháp luật trong khi đó số việc tham gia tố tụng ít, chất lượng tham gia tố tụng chưa đạt hiệu quả mong muốn. Bên cạnh đó, việc xã hội hóa hoạt động TGPL chưa đạt được kết quả khả quan. Việc huy động sự tham gia của luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư tham gia TGPL là rất cần thiết tuy nhiên với sự phân bổ không đồng đều, các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư chủ yếu hoạt động ở các thành phố lớn nên sự tham gia của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư TGPL ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn còn rất hạn chế.

Trợ giúp viên pháp lý theo quy định tại Điều 21 Luật Trợ giúp pháp lý là viên chức nhà nước làm việc tại Trung tâm TGPL được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp thẻ theo yêu cầu của Sở Tư pháp. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL dưới nhiều hình thức như tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa, người đại diện hợp pháp, đại diện ngoài tố tụng và thực hiện một số hình thức TGPL khác theo quy định của pháp luật. Theo Báo cáo tổng kết 08 năm triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý của Bộ Tư pháp ngày 30/6/2016 tính đến hết năm 2014, tổng số công chức, viên chức và người lao động thuộc 63 Trung tâm trên toàn quốc là 1.313 người trong đó có 572 trợ giúp viên pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý là một chức danh không phải là luật sư nhưng được thực hiện những hoạt động như luật sư. Điều 21 Luật Trợ giúp pháp lý 2006 quy định:

 “1.Trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt;

b) Có bằng cử nhân luật;

c) Có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

d) Có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên;

đ) Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

2. Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.

3. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý bằng các hình thức sau đây:

a) Tư vấn pháp luật;

b) Tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự; người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính;

c) Đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật;

d) Thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý khác.

Như vậy, có thể thấy điều kiện để trở thành trợ giúp viên pháp lý đơn giản hơn luật sư, để hành nghề luật sư đòi hỏi ngoài bằng cử nhân luật cần phải có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư, thời gian tập sự nghề luật sư, chứng chỉ hành nghề luật sư. Có thể thấy rằng với điều kiện, tiêu chuẩn quy định về trợ giúp viên pháp lý như vậy thì khả năng và kĩ năng tham gia tố tụng trợ giúp pháp lý của trợ giúp viên pháp lý còn rất hạn chế (trừ trường hợp trợ giúp viên pháp lý là người đã từng là người đã trải qua công tác tại các cơ quan tố tụng hoặc là người đã tiến hành tố tụng). Ngoài ra, trợ giúp viên pháp lý là viên chức Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và trả lương điều này ảnh hưởng tới việc thực hiện TGPL liên quan tới các vụ việc ở địa phương, dẫn tới hoạt động TGPL chưa thực sự đạt được hiệu quả cao.

Đối với hình thức thực hiện TGPL, luật quy định nhiều hình thức TGPL khác nhau, song với điều kiện kinh phí hoạt động còn hạn hẹp, kinh nghiệm, kĩ năng, trình độ chuyên môn của trợ giúp viên pháp lý chưa cao, việc thu hút các nguồn lực, xã hội hóa hoạt động TGPL chưa thực sự hiệu quả, sự tham gia của luật sư, các tổ chức luật sư trong hoạt động TGPL chưa nhiều nên thực chất nhiều nơi hoạt động TGPL thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật....

Xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), đảm bảo chất lượng của luật được nâng cao, có tính khả thi cần xem xét một số vấn đề cụ thể như sau:

Một là, về tổ chức bộ máy cần tổ chức bộ máy thực hiện TGPL tinh gọn, hoạt động hiệu quả và chất lượng. Thực tế nhận thấy, hiện tại tổ chức bộ máy thực hiện TGPL còn cồng kềnh, chi phí cho hành chính lớn mà hiệu quả công việc chưa cao, chưa đảm bảo được tính độc lập trong TGPL đặc biệt với các vụ việc liên quan đến hành chính tại địa phương. Có thể thấy rằng, sự độc lập trong hệ thống TGPL và người thực hiện TGPL là một vấn đề rất được quan tâm nhằm bảo đảm cho việc người thực hiện  TGPL có thể thực hiện tất cả các hoạt động chuyên môn mà không bị tác động bởi một cơ quan hay một cá thể nào có thẩm quyền nhằm bảo đảm việc thực hiện TGPL đạt được hiệu quả tốt nhất, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL. Cần xem xét vai trò của Nhà nước trong hoạt động TGPL, nên chăng vai trò của Nhà nước chỉ dừng lại ở việc quản lý ở câp trung ương và việc thực hiện TGPL nên để một cơ quan bên ngoài thực hiện, vai trò của Nhà nước chỉ ở việc xây dựng thể chế, hệ thống quản lý, đảm bảo nguồn lực thực hiện TGPL, quản lý, giám sát chất lượng của dịch vụ TGPL. Cần nghiên cứu xây dựng hoạt động TGPL như một dịch vụ công đảm bảo đối tượng được TGPL được hưởng TGPL một cách tốt nhất. Xây dựng bộ máy quản lý TGPL ở trung ương có chức năng quản lý, xây dựng chính sách, chiến lược, cấp kinh phí, giám sát, theo dõi chất lượng hoạt động TGPL; cơ quan thực hiện TGPL ở địa phương có chức năng quản lý và ký hợp đồng cộng tác với các tổ chức xã hội, tổ chức hành nghề luật sư, cá nhân luật sư theo vụ việc hoặc cộng tác viên thường xuyên nhằm giảm tải kinh phí, tinh gọn bộ máy, nâng cao tính độc lập và hiệu quả hoạt động

Hai là, nâng cao chất lượng của TGPL đảm bảo người được TGPL được hưởng dịch vụ TGPL miễn phí tương đương với việc luật sư thực hiện trên thị trường có trả phí, đảm bảo chât lượng TGPL tố tụng tương đương với việc luật sư thực hiện trong quá trình tố tụng. Khuyến khích, huy động nguồn lực xã hội vào hoạt động TGPL thông qua việc kêu gọi đóng góp bằng vật chất từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, kinh phí được huy động có thể giao cho Bộ Tài chính quản lý hướng dẫn chi tiêu.

Ba là, nâng cao điều kiện, tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý tương đương với tiêu chuẩn hành nghề luật sư nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của trợ giúp viên pháp lý đặc biệt là khi tham gia tố tụng. Bên cạnh đó, cần có quy định về đội ngũ cộng tác viên của Trung tâm TGPL là luật sư được kí hợp đồng theo vụ việc thực hiện nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong TGPL. Thêm vào đó, để đảm bảo tính độc lập tương đối trong hoạt động TGPL cần quy định việc cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định, đảm bảo sự đồng bộ với thẩm quyền bổ nhiệm công chứng viên, cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, bảo đảm trợ giúp viên pháp lý được thực hiện TGPL trên toàn quốc.....

Đã xem 184 lần