Thứ tư, 20 Tháng 7 2016 02:59

Một số kiến nghị về các quy định liên quan đến luật sư tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Hoạt động của luật sư luôn được nhà nước ta quan tâm. Ngay từ khi nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh 46/SL về tổ chức đoàn thể luật sư. Năm 2006 Luật Luật sư được Quốc hội khóa XI thông qua là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của đội ngũ luật sư, nâng cao tầm chuyên nghiệp của hoạt động luật sư nhằm xây dựng đội ngũ luật sư chất lượng ngang tầm với khu vực và trên thế giới. Tính đến năm 2015 cả nước có hơn 9000 luật sư, số lượng luật sư tập trung đông ở hai thành phố lớn là Hà Nội và  Thành phố Hồ Chí Minh[1].

Hoạt động của Luật sư được quy đinh tại Luật Luật sư năm 2006 và sửa đổi năm 2012, Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản về tố tụng. Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư theo luật Trợ giúp pháp lý và Luật luật sư là khác nhau. Điều 23 Luật Trợ giúp pháp lý quy định luật sư tham gia trợ giúp pháp lý (TGPL) là thành viên của Trung tâm TGPL trong khi đó luật Luật sư quy định Luật sư hoạt động TGPL trên cơ sở điều lệ của Liên đoàn luật sư (Điều 31 luật Luật sư). Đối với việc bồi dưỡng thù lao cho luật sư tham gia TGPL, các luật sư thuộc Trung tâm TGPL được chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính hợp lý, ngược lại các luật sư tham gia TGPL theo sự phân công của các tổ chức hành nghề luật sư đăng kí tham gia TGPL không được hưởng chế độ bồi dưỡng. Bên cạnh đó, Luật TGPL quy định hình thức TGPL là tư vấn tố tụng, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tuy vậy, theo các văn bản pháp lý liên quan đến Luật luật sư thì luật sư tham gia TGPL dưới hình thức như tham gia TGPL miễn phí cho cộng đồng, cụm dân cư, tư vấn pháp luật miễn phí cho đối tượng được hưởng TGPL, tham gia tố tụng bào chữa, bảo vệ miễn phí cho đối tượng được hưởng TGPL, đại diện ngoài tố tụng miễn phí cho tổ chức, cá nhân được hưởng TGPL (Quyết định số 93/QĐ-BTV).

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, khái niệm TGPL quy định ở cả luật TGPL và Luật Luật sư, tuy nhiên mỗi văn bản luật lại quy định hình thức, nội dung, đối tượng TGPL khác nhau dẫn đến việc thực hiện bị chồng chéo, gây khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật.

Luật TGPL không quy định việc tham gia TGPL là một nghĩa vụ của luật sư, khuyến khích các tổ chức hành nghề luật sư tham gia TGPL. TGPL là một hoạt động mang tính tự nguyện của luật sư. Cụ thể về vấn đề nay, Luật Trợ giúp pháp lý quy định ở những diều sau: điều 17, khoản 1  quy định: “ Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý phải đăng ký bằng văn bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động.”, khoản 1 điều 18 quy định: “Thực hiện trợ giúp pháp lý theo Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý”, điểu 19 về chấm dứt tham gia TGPL cua luật sư quy định: “a) Tự chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý;b) Không được tiếp tục tham gia trợ giúp pháp lý trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Luật này; c) Chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.

2. Khi chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật phải thông báo cho Sở Tư pháp nơi đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; chuyển hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý đang trợ giúp đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở địa phương nơi đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý và thực hiện các nghĩa vụ có liên quan.”; điều 23 về sự tham gia TGPL của luật sư: “Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về luật sư, tham gia trợ giúp pháp lý với tư cá”ch cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước theo quy định của Luật này.

Trong những năm qua, tỷ lệ luật sư tham gia trợ giúp pháp lý còn thấp,  các tổ chức hành nghề luật sư đăng kí tham gia TGPL chưa thực hiện TGPL việc tham gia TGPL chủ yếu do các cá nhân luật sư thực hiện. Bên cạnh đó, việc tham gia TGPL của luật sư chưa gắn kết với quyền lợi và trách nhiệm tham gia TGPL của tổ chức hành nghề luật sư. Các luật sư tham gia TGPL với tư cách cá nhân thì kinh nghiệm hoạt động còn hạn chế dẫn tới chất lượng TGPL chưa đạt hiệu quả cao. Thực tế cũng cho thấy, số lượng luật sư tham gia TGPL còn thấp, mặc dù các địa phương rất chú trọng việc huy động việc tham gia TGPL của luật sư, nhưng tỷ lệ luật sư tham gia TGPL đang giảm dần. Số lượng luật sư tham gia TGPL chiếm 11,7% trong tổng số cộng tác viên tham gia TGPL[2] là quá ít, bên cạnh đó, do sự phân bố luật sư không đồng đều giữa các địa phương, đa số tập trung ở các thành phố lớn, trong khi đó đối tượng cần TGPL đa phần ở các vùng sâu, vùng xa thì số lượng luật sư lại ít không đáp ứng được nhu cầu TGPL của cư dân vùng đó. Ngoài ra, số lượng luật sư cộng tác viên tham gia TGPL trên thực tế ít hơn nhiều so với số lượng luật sư đăng kí tham gia TGPL. Một lý do nữa dẫn tới việc giảm số lượng luật sư tham gia TGPL là nguồn kinh phí còn hạn hẹp, đặc biệt từ năm 2010 khi nguồn kinh phi hỗ trợ từ dự án ODA đối với hoạt động TGPL không còn.

Luật Luật sư và Quyết định 93/QĐ-BTV của Liên đoàn Luật sư chỉ rõ mỗi luật sư thực hiện nghĩa vụ TGPL ít nhất 1 ngày làm việc/năm, nếu không thực hiện nghĩa vụ này thì luật sư có thể thay thế bằng hình thức nộp tiền (Khoản 1 Điều 6 Quyết định số 93/QĐ-BTV). Trên thực tế, trong những năm qua, luật sư tham gia khá nhiều hoạt động TGPL, riêng năm 2015, luật sư thực hiện hơn 7000 vụ việc TGPL[3] miễn phí, tuy nhiên hoạt động này cũng chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu được TGPL của người dân. Do quy định, mỗi năm luật sư thực hiện TGPL 1 ngày làm việc dẫn tới có những vụ việc, đặc biệt là việc tham gia bào chữa, tố tụng, đại diện ngoài tố tụng diễn ra nhiều hơn một ngày thì ngươi dân chỉ được hưởng TGPL miễn phí 1 ngày, từ những ngày sau người dân phải trả chi phí, gây khó khăn cho ngươi dân và  hoạt động TGPL của luật sư không đạt hiệu quả. Mặt khác, việc hoạt động TGPL của luật sư chưa được định hướng đồng bộ, tương tác, hỗ trợ giữa các cơ quan như Bộ Tư pháp, Liên đoàn luật sư, Tòa án, Viện kiểm sát….

Xuất phát từ nhu cầu thực tế và những hạn chế trong các văn bản hiện hành quy định về TGPL, việc xây dựng luật TGPL (sửa đổi) cần chú trọng một số vấn đề như:

Thứ nhất, cần thiết sửa đổi các quy định về TGPL của luật sư nhằm tối đa hóa nguồn lực này trong hoạt động TGPL, điều này thể hiện ở chỗ cần có quy định thống nhất về quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL; trách nhiệm của các cơ quan trong việc phối hợp thực hiện TGPL đặc biệt là trách nhiệm của Liên đoàn luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư.

Thứ hai, cần có quy định về việc đánh giá chất lượng hoạt động TGPL từng bước nâng cao chất lượng hoạt động TGPL, đảm bảo việc TGPL đặc biệt TGPL trong tố tụng được nâng cao, hiện nay chủ yếu là các Trung tâm TGPL đánh giá chất lượng vụ việc được  TGPL, tuy nhiên điều này dẫn tới kết quả không khách quan vì một cơ quan vừa thực hiện  TGPL vừa đánh giá chất lượng TGPL, do đó, cần cơ quan độc lập đứng ra thực hiện việc đánh giá chất lượng TGPl, thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại về chất lượng TGPL.

Thứ ba, thực tế cho thấy, các vụ việc yêu cầu TGPL chủ yếu là các vụ việc tố tụng, do đó Luật TGPL (sửa đổi) cần có những quy định thể hiện hoạt động TGPL nên tập trung vào tố tụng, đồng thời có những quy định cụ thể  và nâng cao hơn nữa về điều kiện, tiêu chuẩn, năng lực, kinh nghiệm hoạt động người tham gia TGPL nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động TGPL.


[1]Báo cáo tổng kết năm 2015 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam

[2]Báo cáo số 77/BC-BTP ngày 26/3/2014 của Bộ Tư pháp về sơ kêt hai năm thực hiện Chiến lược trợ giúp pháp lý

[3]Báo cáo hoạt động của Liên đoàn Luật sư năm 2015

Đã xem 482 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành