Thứ năm, 18 Tháng 8 2016 07:25

Hết quyền nhãn hiệu trong hệ thống pháp luật của Liên minh châu âu

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Trong khuôn khổ pháp luật Liên minh châu Âu, tương tự như pháp luật Hoa Kỳ, vấn đề hết quyền sở hữu trí tuệ xuất hiện trước tiên trong các phán quyết của Tòa án Liên minh châu Âu. Hầu hết các học giả[1] đều cho rằng, vụ Grundig-Consten[2] đánh dấu sự xuất hiện của thuyết hết quyền ở Liên minh châu Âu. Như vậy, ở cấp độ Liên minh, vụ việc đầu tiên về hết quyn s hữu trí tuệ lại liên quan đến nhãn hiệu chứ không liên quan đến sáng chế như ở một số nước, chẳng hạn Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản[3]. Vấn đ này được giải quyết ở Tòa án Liên minh châu Âu khi chưa có quy định pháp luật của Liên minh v hết quyền sở hữu trí tuệ. Do đó, Tòa án Liên minh châu Âu đã giải quyết những vụ việc về hết quyền sỏ hữu trí tuệ trên cơ sở áp dụng các nguyên tắc về cạnh tranh - cụ thể, Điều 85 Hiệp ước Cộng đồng kinh tế châu Âu (nay là Điều 101 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu) và Điều 86 Hiệp ước Cộng đồng kinh tế châu Âu (nay là Điều 102 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu) và nguyên tắc tự do lưu chuyển - Điều 30 Hiệp ưóc Cộng đồng kinh tế châu Âu (nay là Điều 34 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu) và Điều 36 Hiệp ước Cộng đồng Kinh tế châu Âu (nay là Điều 36 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu)[4], về điểm này, cách giải quyết của Liên minh châu Âu khác vi cách giải quyết của Hoa Kỳ. Các Tòa án Hoa Kỳ đã xem xét những vụ việc đầu tiên v nhập khẩu song song hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ trên cơ sở xem xét hành vi xâm phạm quyn đối vi nhãn hiệu và thuyết toàn cầu hoặc thuyết lãnh thổ.

Trong vụ việc Grundig-Consten, nguyên đơn là Etablissements Consten SARL (Công ty trách nhiệm hữu hạn Consten, gọi tắt là Consten) và Grundig-Verkaúfs-GMBH (pháp nhân Đức, gọi tắt là Grundig); bị đơn là ủy ban châu Âu (European Commission). Vụ việc liên quan đến thỏa thuận Grundig và Consten, theo đó Grundig cho phép Consten đăng ký nhãn hiệu “GINT” của Grundig Pháp cùng vối tên của Consten, do đó, Consten có thể sử dụng nhãn hiệu để ngăn chặn nhập khẩu song song các sản phẩm của Grundig từ Đức.

Tòa án Liên minh châu Âu cho rằng thỏa thuận giữa Grundig và Consten vi phạm Điều 85 (1) Hiệp ước Cộng đồng kinh tế châu Âu (nay là Điều 101 (1) Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu). Consten không thể viện dẫn quyền đối với nhãn hiệu để phản đối việc nhập khẩu và bán những hàng hóa mà Grundig đã đưa ra thị trường của nước thành viên khác. Việc Grundig bán sản phẩm ra thị trường các nước thành viên khác dường như đã có sự đồng ý của Consten, bởi vì, giữa Consten và Grundig có mối quan hệ kinh tế mật thiết. Cụ thể, Consten là nhà phân phối độc quyền của Grundig.

Nguyên tắc hết quyền khu vực đã tiềm tàng trong phán quyết của Tòa án Liên minh châu Âu về thỏa thuận giữa Grundig và Consten. Thỏa thuận này trái với Điều 85 mục 1Hiệp ước Cộng đồng kinh tế châu Âu (nay là Điều 101 mục 1 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu) với lý do chính là “Bởi vì, thỏa thuận... nhằm mục đích cô lập thị trường Pháp đối với sản phẩm của Grundig, lưu giữ một cách giả tạo những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng trong những thị trường nội địa riêng biệt trong phạm vi khu vực, do đó, thỏa thuận này bóp méo cạnh tranh trong thị trường chung châu Âu”. Lý do này tương tự như lý do hình thành nguyên tắc hết quyền trong phạm vi Liên minh châu Âu - nguyên tắc hết quyền khu vực được sử dụng để ngăn chặn chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chia cắt thị trường chung của Liên minh.

Vụ việc được giải quyết theo các nguyên tắc của pháp luật cạnh tranh trong Hiệp ước Cộng đồng châu Âu. Thực tế, nhà nhập khẩu song song cũng không thể viện dẫn Điều 28 Hiệp ước Cộng đồng châu Âu (nay là Điều 34 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu) cho đến đầu những năm 1970 với lý do các biện pháp hạn chế về lương được đề cập trong điu luật này không có hiệu lực cho đến cuối giai đoạn chuyển đổi ngày 31-12-1969. Nếu vụ việc này xảy ra sau đó, nhà nhập khẩu song song có thể viện dẫn Điều 28 (nay là Điều 34 Hiệp ước về chức năng, hoạt động cửa Liên minh châu Âu) trước Tòa án quốc gia cho rằng, chủ sở hữu nhãn hiệu đã có hành vi vi phạm, chống lại nhà nhập khẩu song song và Tòa án cần phải áp dụng thuyết hết quyền đã được Tòa án Liên minh châu Âu thiết lập để bảo vệ nhà nhập khẩu song song[5].

Năm năm sau vụ Grundig-Consten[6], trong vụ việc mang tính bước ngoặt Deutsche Grammophon[7], Tòa án Liên minh châu Âu lần đầu tiên đã giải quyết vụ việc về nhập khẩu song song trên cơ sở các nguyên tắc tự do lưu chuyển (Điều 34 và Điu 36 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu, trước đây là Điều 28 và Điều 30 Hiệp ước thiết lập cộng đồng châu Âu), mà không áp dụng các quy định pháp luật cạnh tranh như trước đây (Điều 101 và Điểu 102 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu, trước đây là Điều 81 và Điều 82 Hiệp ưóc thiết lập cộng đồng châu Âu)[8]. Trong vụ này, Deutsche Grammophon đã cố gắng ngăn chặn việc bán lại các đĩa ghi âm trên thị trường Đức. Đây là những đĩa ghi âm mà công ty con của Deutsche Grammophon ở Pháp đã bán trên thị trường Pháp. Để làm được điều này, Deutsche Grammophon đã viện dẫn độc quyền phân phối của nhà sản xuất bản ghi âm (đây là quyền liên quan theo pháp luật Đức). Vụ việc này đã thiết lập nguyên tắc hết quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi Liên minh châu Âu. Theo đó, khi chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ đã đồng ý đưa hàng hóa ra thị trường của bất kỳ nước thành viên nào, chủ thể này không còn quyền để ngăn chặn nhập khẩu hàng hóa vào thị trường của các nước thành viên khác[9].

Nhiều năm sau, sự ngụ ý về nguyên tắc hết quyền trong vụ Grundig-Consten và sự hình thành nguyên tắc này trong vụ Duestche Grammophon, hết quyền trong phạm vi cộng đồng châu Âu đã được pháp điển hóa và được quy định trong Chỉ thị đầu tiên vể nhãn hiệu số 89/104/EEC năm 1988 (gọi tắt là Chỉ thị 89/104/EEC)[10]. Bên cạnh Tòa án Liên minh châu Âu, cơ quan lập pháp Liên minh châu Âu cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nguyên tắc hết quyền khu vực. Sự can thiệp của cơ quan lập pháp Liên minh châu Âu đối với vấn đề hết quyền nhãn hiệu được thể hiện rõ nhất ở Điều 7 Chỉ thị về nhãn hiệu.

Sau đó, Điều 13 Quy định về nhãn hiệu số 40/94 ngày 20-12-1993 về nhãn hiệu cộng đồng (gọi tắt là Quy định số 40/94) nhắc lại quy định tại Điều 7 Chỉ thị 89/104/EEC về nhãn hiệu[11]. Điều 7 Quy định về Chỉ thị 89/104/EEC và Điều 13 Quy định 40/94 đều quy định như nhau về hết quyền đối với nhãn hiệu, trừ những từ đầu tiên. Điều 7 Quy định về Chỉ thị 89/104/EEC bắt đầu với “nhãn hiệu”, trong khi đó, Điều 13 Quy định 40/94 bắt đầu với “nhãn hiệu Cộng đồng”. Trong Quy định về nhãn hiệu cộng đồng, vấn đề hết quyền đối với nhãn hiệu còn được tìm thấy trong các điểu 12, 22 và 23[12]. Hiện nay, Chỉ thị 89/104/EEC được thay thế bằng Chỉ thị 2008/95/EC của Nghị viện châu Âu ngày 22-10-2008 hài hòa pháp luật của các nước thành viên liên quan đến nhãn hiệu (gọi tắt là Chỉ thị 2008/95/EC)[13] và Quy định về nhãn hiệu số 40/94 được thay thế bằng quy định (EC) 207/2009 ngày 26-02-2009 v nhãn hiệu cộng đồng (gọi tắt là quy định (EC) 207/2009)[14]. Trong hai văn bản mới được ban hành này, những quy định về hết quyền đối với nhãn hiệu không có sự thay đổi. Mối liên hệ giữa Liên minh châu Âu với Khu vực kinh tế châu Âu được đưa vào hai văn bản pháp luật này.

Cùng với Điu 34 và Điều 36 Hiệp ước v chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu (Điều 28 và Điều 30 Hiệp ước thiết lập cộng đồng châu Âu) và những quy định vừa để cập trên đây về hết quyền sở hữu trí tuệ do cơ quan lập pháp cộng đồng ban hành, Thỏa thuận về Khu vực kinh tế châu Âu cũng là một cơ sở pháp lý cho vấn đề hết quyền sở hữu trí tuệ nói chung và hết quyền đối với nhãn hiệu nói riêng trong phạm vi Khu vực kinh tế châu Âu. Liên quan đến vấn đề này, Điều 6, Điều 11 và Điu 13 Thỏa thuận về Khu vực kinh tế châu Âu là cơ sở quan trọng để khẳng định rằng: nguyên tắc hết quyền được áp dụng đối với những hàng hóa được bán với sự đồng ý của chủ thể quyển sở hữu trí tuệ tại bất kỳ nơi nào trong Khu vực kinh tế châu Âu. Để khẳng định về nguyên tắc hết quyền trong Khu vực kinh tế châu Âu, Nghị định thư số 28 về sở hữu trí tuệ dành riêng một điều luật quy định rõ ràng về vấn đề này. Cụ thể, Điều 2 Nghị định thư số 28 quy định: “Với vấn đề hết quyền, các nước ký kết quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ như đã quy định trong pháp luật Cộng đồng. Để không làm ảnh hưởng tới sự phát triển của các phán quyết của Tòa án, cần phải hiểu quy định này phù hợp với nghĩa đã được thiết lập trong các nguyên tắc liên quan của Tòa án Liên minh châu Âu trước ngày ký kết Thỏa thuận này. Ngoài ra, Nghị định số 28 còn quy định Đối với sáng chế, quy định này có hiệu lực muộn nhất một năm sau khi Thỏa thuận này có hiệu lực”.

Với quy định tại Điều 2 Nghị định thư số 28, mặc dù Tòa án của Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu (EFTA Court) hoặc các Tòa án quốc gia của các nước thuộc Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu có thể không muôn tán thành với những phán quyết trong tương lai của Tòa án Liên minh châu Âu, tuy nhiên, trongthực tế họ lại không thể tách rời khỏi những phán quyết của Tòa án này.


[1]Ví dụ: David T. Keeling [xem: Keeling, David T., IPRs in EU Law, Vol. I - Free Movement and Competition Law, Oxford University Press, 2003, tr. 80] và Suírin Wish [xem chú thích (íòotnote) 132 trong nghiên cứu của Stucki, Marc, Trademarks and Free Trade, Swiss Papers on European Integration, Printed in Switzerland, 1997].

[2]Joined cases 56 & 58/64, Etablỉssement Consten SARL & Grundig-Verkaufs-GmbH V. EC Commission, [1966] ECJ 299.

[3]Hoa Kỳ: Adams V. Burke, 84 ưs (17 Wall.) 453 (1873); Nhật Bản: BBS Krafífahrzeug Technik V. Jap-Auto Products ("BBS case")y the Supreme Court Decision on July 01, 1997, H6 (Ne) 3272 ("BBS Wheels 111").

[4]Điều 30 Hiệp ước Cộng đồng Kỉnh tế châu Âu (Điều 34 Hiệp ước v chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu) quy định cấm "hạn chế s lượng đôi với xuất khẩu, và tất cả các biện pháp có tác động tương tự" giữa các nưốc thành viên. Điều 36 Hiệp ưốc Cộng đồng Kinh tế châu Âu (Điều 36 Hiệp ưốc về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Ảu, Điều 36) đưa ra danh mục các biện pháp có khả năng hạn chế thương mại song song, bao gồm "bảo hộ tài sản công nghiệp và thương mại" và chỉ rõ rằng những biện pháp này không được "thiết lập các hình thức phân biệt độc đoán hoặc hạn chế ngụy trang trong thương mại giữa các nưốc thành viên". Điều 85 Hiệp ưóc Cộng đồng kinh tế châu Âu (Điều 101 Hiệp ước về chức năng, hoạt động của Liên minh châu Au) Hiệp ưốc Cộng đồng kinh tế châu Âu (Điều 102 Hiệp ước vê' chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu) cũng đóng góp đáng kể trong chống lại hành vi ngăn chặn thương mại. Trong đó, Điều 85 cấm thỏa thuận và thực tế thương mại chông cạnh tranh, Điều 86 cấm lạm dung vi trí thông lĩnh thị trường. Trong tiếng Anh, Hiệp ước Cộng đồng Kinh tế châu Au là The Treaty of the European Economic Commùnity và Hiệp ưóc vế chức năng, hoạt động của Liên minh châu Âu là The Treatý on the Functioning of the European Union.

[5]Keeling, David T., IPRs in EU Law, Vọl. I - Free Movement and Competition Law, Oxíord University Press, 2003, tr. 81.

[6]Joined cases 56 & 58/64, Etablissement Consten SARL & Grundig-Verkaufs-GmbH V. EC Commission, [1966] ECJ 299

[7]Vụ 78/70, Deutsche Grammophon GmbH V. Metro-SB-Grossmarkte GmbH & Co KG, [1971] ECR 487

[8]Rognstad, Ole-Andreạs, The exhaustion /competition interface ỉn EU law - ỉs there room for a holistỉc approach? (Drexlv Josef (ed.), Research Handbook on Intellectual Property and Competition Law, Edward Elgar, 2008, tr. 427-450).

[9]Keeling, David T., IPRs in EU Law, Vol. I - Free Movement and Competition Law, Oxíord University Press, 2003, tr, 114

[10]Công báo năm 1989 L 40, tr. 1

[11]OJ 1994 L 11, tr. 1

[12]Cần lưu ý rằng Chỉ thị 89/104/EEC quy định hết quyền đối với nhãn hiệu quốc gia và Quy định 40/94 quy định hết quyền trong phạm vi khu vực.

[13]OJ L 299, 8.11.2008, tr. 25

[14]OJ L 78, 24.3.2009, tr. 1

Đã xem 226 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành