In trang này
Thứ ba, 20 Tháng 9 2016 07:15

Kinh nghiệm về trợ giúp pháp lý của một số nước

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trách nhiệm và là một chức năng xã hội của Nhà nước thể hiện tinh thần nhân đạo của Nhà nước hỗ trợ về mặt pháp lý cho các đối tượng khó khăn trong xã hội. Nguyên tắc của Đại hội đồng Liên hợp Quốc tại Nghị quyết số 67/187, thì TGPL bao gồm tư vấn pháp luật, giúp đỡ và đại diện cho người bị giam giữ, người bị bắt hoặc bị phạt tù; người bị tình nghi hoặc bị buộc tội hoặc phạm tội hình sự; nạn nhân, nhân chứng trong quá trình tư pháp, miễn phí cho người có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc khi lợi ích công lý đòi hỏi. Ở một số nước như Hàn Quốc, ngay trong khái niệm TGPL đã đề cập đến chủ thể thực hiện TGPL và hình thức TGPL, tuy nhiên một số nước khác như Phần Lan, Slovania thì nhấn mạnh tính chất miễn phí trong khái niệm TGPL. Mặt khác, đối tượng được hưởng TGPL được quy định ngay trong khái niệm về TGPL như trường hợp của Hà Lan, Phần Lan, Moldovia theo đó, TGPL được hiểu là hoạt động cung cấp hỗ trợ về mặt pháp luật cho các đối tượng mà không có khả năng chi trả cho dịch vụ này, và việc chi trả do ngân sách Nhà nước cấp. Tựu chung lại, có thể thấy rằng, pháp luật các nước đều quy định TGPL là việc cung cấp các dịch vụ pháp lý do Nhà nước trả tiền và bảo đảm người được TGPL được miễn phí hoặc được giảm một phần chi phí.

Luật TGPL của các nước hầu hết không có điều luật riêng về phạm vi điều chỉnh nhưng đều thể hiện quan điểm TGPL do Nhà nước bảo đảm, mặt khác Luật TGPL của các nước  quy định về nguyên tắc, người được TGPL, người thực hiện TGPL, tổ chức TGPL, trình tự, thủ tục thực hiện TGPL do Nhà nước cấp kinh phí… điển hình là Luật Trợ giúp pháp lý của các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Úc…. Nhiều nước trên thế giới cũng có sự phân biệt rõ ràng giữa trợ giúp pháp lý do Nhà nước thực hiện và dịch vụ pháp lý từ thiện do các luật sư tự thực hiện.

Luật Trợ giúp pháp lý của các nước quy định khác nhau về người được hưởng TGPL, tựu chung lại có một số nhóm đối tượng được hưởng dịch vụ này cụ thể là:

Thứ nhất, người được TGPL là người nghèo, không có hoặc không đủ khả năng tài chính để chi trả cho các dịch vụ pháp lý mà mình phải đối mặt. Ở một số nước như Hà Lan, Nhật, Indonexia, bang Victoria (Úc) thì đây là đối tượng duy nhất được hưởng TGPL.

Thứ hai, đối tượng được TGPL là người yếu thế trong xã hội, không có khả năng tự bảo vệ, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.

Như vậy, tựu chung lại, đối tượng TGPL của các nước là người nghèo và để được hưởng TGPL, xác minh là đối tượng thuộc diện được TGPL họ phải chứng minh mình thuộc diện được trợ giúp. Luật TGPL các nước cũng quy định thủ tục, trình tự, các biện pháp kiểm tra khả năng tài chính của các đối tượng này.

Ngoài ra, pháp luật một số nước như Mỹ, Hàn Quốc, Canada, Nhật Bản…. cũng có những quy định cụ thể đối với người thực hiện TGPL. Cụ thể, người thực hiện TGPL là luật sư công hoặc luật sư TGPL làm việc tại tổ chức TGPL và trực tiếp thực hiện TGPL, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và làm việc theo sự phân công của các tổ chức TGPL. Mặt khác, các luật sư tư (luật sư hành nghề tự do) cũng thực hiện TGPL và được trả thù lao theo vụ việc. Các luật sư này là thành viên của Hội luật sư, kí kết hợp đồng với tổ chức TGPL và hưởng kinh phí theo từng vụ việc TGPL. Kinh phí theo biểu bảng do Nhà nước quy định đối với từng trường hợp.

Mô hình TGPL trên thế giới hiện có ba mô hình. Thứ nhất là mô hình Nhà nước thực hiện hoàn toàn việc TGPL, thứ hai là mô hình TGPL do luật sư và tổ chức xã hội thực hiện và thứ ba là mô hình hỗn hợp tức là Nhà nước tổ chức thực hiện và huy động thêm các tổ chức xã hội, luật sư tham gia TGPL.

Đối với mô hình thứ nhất, Nhà nước hoàn toàn chủ động trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch TGPL, việc TGPL không bị phụ thuộc vào các luật sư và các tổ chức xã hội khác. Nhà nước chủ động thực hiện và đánh giá chất lượng hoạt động TGPL. Điều quan trọng ở mô hình này, chi phí thực hiện thấp hơn so với việc thuê luật sư cộng tác viên thực hiện TGPL, các nước theo mô hình này là Philipine, Argentina… Tuy nhiên, theo mô hình này, chỉ luật sư công mới thực hiện TGPL còn luật sư tư không thể thực hiện TGPL, trường hợp nhu cầu TGPL lớn thì khó bảo đảm được số lượng và chất lượng TGPL, ngoài ra còn khó bảo đảm tính độc lập, khách quan trong quá trình TGPL vì mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Vấn đề kinh phí gây áp lực lớn cho ngân sách. Ở mô hình thứ hai, cơ quan nhà nước chỉ quản lý nhà nước về TGPL, xây dựng kế hoạch, chính sách và việc TGPL được giao cho các luật sư, tổ chức xã hội thực hiện, ở mô hình này có hai nước áp dụng là Hungary và Indonexia. Mô hình này cho phép Nhà nước không cần thành lập hệ thống cơ quan TGPL ở các cấp, do đó tiết kiệm khoản chi phí cho đầu tư trụ sở, trang thiết bị, con người tuy nhiên, vẫn cần có cơ quan tiếp nhận đơn TGPL, phân phối vụ việc, điều phối chung việc thực hiện TGPL, do đó cơ quan này vừa thực hiện quản lý nhà nước về TGPL vừa quản lý nhà nước về TGPL do đó không phù hợp với nơi nào mà có nhiều yêu cầu TGPL. Bên cạnh đó, việc thực hiện TGPL phụ thuộc hoàn toàn vào đội ngũ luật sư, do đó chi phí cao, việc quản lý đánh giá vụ việc và chi trả cho luật sư, tổ chức xã hội khá phức tạp, quan trọng hơn là không có cơ chế ràng buộc luật sư thực hiện TGPL ổn định, lâu dài. Mô hình thứ ba là mô hình hỗn hợp, theo đó các nước thực hiện quản lý nhà nước về TGPL song song việc kí hợp đồng với tổ chức xã hội, luật sư tham gia thực hiện TGPL và trả thù lao cho họ. Mô hình này rất nhiều ưu điểm do đó rất nhiều nước trên thế giới thực hiện theo mô hình này cụ thể như: Cho phép sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội do kết hợp, phát huy được các lợi thế của người thực hiện TGPL của Nhà nước, luật sư và các tổ chức xã hội; đảm bảo kịp thời nhu cầu TGPL của người dân, Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo và có khả năng huy động các nguồn lực trong xã hội tham gia TGPL; đội ngũ thực hiện TGPL mang tính ổn định, được đào tạo và quản lý chặt chẽ; chất lượng dịch vụ TGPL ngày càng được nâng cao do đội ngũ thực hiện TGPL được đào tạo, bồi dưỡng trình độ tương đương luật sư tư.

Bên cạnh đó, chế độ kinh phí dành cho hoạt động TGPL của các quốc gia chủ yếu do Nhà nước đảm bảo. Một số nước như Ấn độ, Malaixia, Argnetina, Nhật bản... còn huy động được các nguồn lực khác cho hoạt động TGPL như nguồn tài trợ quốc tế, nguồn đóng góp từ các cá nhân, đóng góp của các luật sư tư, tiền thu được từ các hoạt động khác của cơ quan TGPL. Nguồn kinh phí TGPL được cấp qua cơ quan quản lý TGPL, một số nước cấp kinh phí TGPL thông quan Bộ tư pháp hoặc Bộ quản lý trợ giúp pháp lý và kinh phí TGPL chủ yếu dành chi trả thù lao cho người thực hiện TGPL.

  Ở các nước, việc thực hiện trợ giúp pháp lý được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và hòa giải, tùy thuộc điều kiện kinh tế xã hội mỗi nước có thể quy định thêm các hình thức khác. Mặc dù các nước quy định hình thức TGPL không hoàn toàn giống nhau nhưng có một điểm chung là tất cả các nước có hệ thống TGPL của Nhà nước đều quy định hình thức tư vấn pháp luật và tham gia tố tụng. Một số nước không có hệ thống TGPL của Nhà nước, hoạt động TGPL hoàn toàn do luật sư đảm nhận thì TGPL chỉ được thực hiện với hình thức tham gia tố tụng. Một số nước còn thành lập Văn phòng tại địa phương để thực hiện TGPL ở vùng sâu, vùng xa. Hầu hết các nước đều thực hiện TGPL đối với các vụ việc trong lĩnh vực hình sự, đặc biệt các vụ án có mức tử hình, các vụ việc đối với trẻ vị thành niên trong trường hợp bị cáo không có người đại diện hợp pháp thì cơ quan tiến hành tố tụng phải mời luật sư cho bị cáo. Bên cạnh đó, đối với việc TGPL trong lĩnh vực dân sự thì đa số các nước có hệ thống TGPL đều thực hiện TGPL trong lĩnh vực dân sự như Indodnesia, Hàn Quốc, Úc, Nam Phi.... Tuy nhiên lĩnh vực dân sự ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả hôn nhân gia đình, lao động, di cư, kinh doanh thương mại, việc làm.... Một số nước giới hạn phạm vi được TGPL, ví dụ Hàn Quốc, Mondovia quy định người nước ngoài và người không có quốc tịch được TGPL trong tố tụng và các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính công và tòa án.

Đã xem 632 lần