In trang này
Chủ nhật, 23 Tháng 10 2016 09:22

Mối quan hệ giữa kiểm soát quyền lực nhà nước với hoạt động phòng chống tham nhũng

Tham nhũng là hiện tượng gắn liền với quyền lực, là việc thu vén lợi ích tư từ/bằng quyền lực công; do đó, nguy cơ tham nhũng tỷ lệ thuận với độ lớn của quyền lực. Nôi cách khác, người nắm giữ quyn lực càng lớn thì nguy cơ nảy sinh hành vi tham nhũng càng cao. Theo sử gia Lốt Áctơn (Lord Acton), “quyền lực có xu hướng hủ hóa gồm cả tham nhũng, quyền lực tuyệt đối có xu hướng hủ hóa tuyệt đối”[1]. Trong các chủ thể xã hội, chỉ có Nhà nước là chủ thể nắm giữ quyền lực to lớn nhất với phạm vi quản lý rộng khắp các lĩnh vực; cùng với đó là nắm giữ, quản các loại nguồn lực di dào của xã hội. Điều này tạo ra một nguy trước mắt là nhà nước có thể vượt quá các giới hạn mà quốc dân đặt ra cho nó để lạm dụng quyền lực một cách bất chính, phi pháp. Ý thức được nguy cơ này, xã hội đặt ra vấn đề phải chặn đứng xu hướng tuyệt đối hóa quyền lực nhà nước. Một trong những phương cách được đưa ra để tránh tuyệt đối hóa quyền lực nhà nước là đem phân chia quyền lực nhà nước ra thành nhiều phần/nhánh, sau dó, các phần/nhánh quyền lực đó sẽ kiểm soát và chế ước lẫn nhau. Thực tiễn chính trị thế giới ghi nhận sự hữu hiệu của phương cách này. Lý thuyết gia của nó là S.L.Mongtecxkio (S.L. Montesquieu) với học thuyết “tam quyền phân lập” được trình bày trong tác phẩm Tinh thần luật”, trong đó ghi rõ: “Hiến pháp là sự thể hiện ý chí ban đầu của người dân chịu sự quản lý của Nhà nước. Do đó, Hiến pháp là cần thiết đối với Chính phủ. Khi quyền lập pháp và hành pháp được tập trung trong tay một người sẽ không có tự do, do sự sợ hãi có thể phát sinh khi cùng một vương triều hay mt nghị viện ban hành ra những đạo luật độc đoán và sau đó thực thi những đạo luật đó một cách độc đoán. Sẽ một lần nữa không có tự do, nếu quyền tư pháp không được tách khỏi quyền lập pháp, cuộc sống và tự do của con người sẽ phải chịu sự kiểm soát độc đoán. Khi đó, Thẩm phán sẽ đồng thời là nhà lập pháp. Nếu gắn liền với quyền hành pháp, thẩm phán có thể hành xử như những kẻ áp bức”[2].

Trong khi đó, dựa theo quan điểm của chúng ta, Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thng nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đến Đại hội XI của Đảng, Đảng ta đã nêu lên định hướng nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đ vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”[3]. Theo triết lý chính trị này, Nhà nước thuộc về thượng tầng kiến trúc nên phải phù hợp với hạ tầng cơ sở đặc trưng chủ yếu bởi lực lượng sản xuất.

Trong lịch sử loài người, giai cấp công nhân là đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất. Giai cấp công nhân với đội tiền phong là Đảng Cộng sản có sứ mệnh lịch sử phải xóa bỏ quan hệ sản xuất bóc lột và thay bằng quan hệ sản xuất bình đẳng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Triết lý chính trị này hướng tới trạng thái nhất nguyên về quan hệ sản xuất. Theo đó, nhất nguyên về quan hệ sản xuất sẽ dn đến nhất nguyên về chính trị, nghĩa là chỉ có duy nhất một đảng là Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Nhà nước có nhiệm vụ thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách và pháp luật.

Tính toàn diện trong phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản thể hiện ở sự tồn tại của các cấp ủy đảng tại mọi thiết chế chính trị - xã hội của quốc gia, bao gồm trong đó là tất cả các cơ quan nhà nước. Quyền lực của hệ thống cơ quan Đảng là thống nhất kéo theo quyền lực nhà nước cũng là thống nhất. Tính thống nhất này được xác lập thành nguyên tắc tập trung dân chủ áp dụng cho tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị, bao gồm Đảng, Nhà nước và các tổ chức, đoàn thể xã hội. Như vậy, quyền lực của những Nhà nước vận hành theo triết lý chính trị này sẽ không được phân chia thành những phần độc lập nhau. Điều này có ý nghĩa là chỉ tồn tại một quyền lực công duy nhất thuộc về một chủ thể nhất định bao gồm các cơ quan được chủ thể phân công hoặc ủy quyền thực thi những phần/nhánh khác nhau của quyền lực nhà nước. Người ta có thể nói rằng các quốc gia xã hội chủ nghĩa có cách tiếp cận khác. Nhiệm vụ kiểm soát quyền lực nhà nước diễn ra thông qua hoạt động giám sát của nhân dân và các đoàn thể quần chúng cũng như hoạt động kiểm tra của Đảng, hoạt động thanh tra của Nhà nước. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là vấn đề hiệu quả của việc kiểm soát. Hoạt động giám sát của người dân đối với các cơ quan công quyền dựa trên sự bất cần xứng về thực quyền và nguồn lực sẽ khó có thể đạt được hiệu quả mong muốn khi mà đối diện với một bộ máy quyền lực nhà nước to lớn lại chỉ là một hoặc một nhóm những công dân không có hoặc thiếu thực quyền cũng như không có những nguồn lực cần thiết phục vụ cho hoạt động giám sát. Hiệu quả của hoạt động kiểm soát chỉ đến và thực sự có được khi chủ thể kiểm soát có một cách tương xứng hoặc vượt trội so với đối tượng chịu sự kiểm soát cả về thực quyền cũng như nguồn lực. Điều này không thể xảy ra nếu một đối tượng kiểm soát là toàn bộ nhà nước, vì trong một quốc gia không có chủ thể nào có bằng hoặc lớn hơn Nhà nước về quyền lực.

Do đó, để có thể tạo ra, nâng cao hiệu quả kiểm soát quyn lực nhà nước là phải tạo ra bằng được những đối trọng về quyền lực ngay trong nội bộ nhà nước. Đối trọng về quyền lực sẽ tạo ra sự cân bằng quyền lực: đến lượt mình, trạng thái cân bằng quyền lực sẽ giúp sức đắc lực cho việc ngăn ngừa nguy cơ tha hóa quyền lực. Nếu công nhận nguyên lý “quyền lực dẫn đến tha hóa” là nguyên lý có tính chất phổ quát thì chắc chắn phải thừa nhận những nhược điểm trong khâu tổ chức, quản lý và thực hiện quyền lực của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay. Bộ máy này đã được thiết kế dựa trên triết lý chính trị có khuynh hướng tập quyền sâu sắc và chỉ phù hợp với những bối cảnh, giai đoạn lịch sử đặc thù. Còn trong bối cảnh mới - đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân - thì bản thiết kế bộ máy này tỏ ra nhiều bất cập và hạn chế mà một trong số đó là thiếu vắng sự cân bằng quyền lực cần thiết. Sự thiếu vắng này tất yếu sẽ tạo ra nguy tha hóa quyền lực đối với chủ thể nắm giữ quyền lực; kéo theo một trong những hệ lụy trước mắt là vấn nạn tham nhũng.

Như vậy, quan hệ giữa các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước thiên về thng nhất và phối hợp hơn là đối trọng và kiểm soát là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay. Nhận thức rõ điều này, tại Đại hội đại biu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, một trong những điểm mới quan trọng được Đảng ta bổ sung, để cập với mong muốn cân bằng quyền lực nhà nước giữa các nhánh lập pháp, tư pháp và hành pháp là vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, thể hiện trong luận điểm: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[4]. Quan điểm trên đây của Đảng cũng đã được thể hiện tại Hiến pháp năm 2013: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Đối với vấn nạn tham nhũng, tệ quan liêu, lãng phí, ngoài việc ban hành pháp luật, tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nhà nưc sẽ “có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”. Với quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc thực hiện kiểm soát quyền lực và tăng cường hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nưc trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp sẽ tạo ra động lực nội sinh từ trong lòng Nhà nước cũng như sự đồng thuận xã hội để đẩy lùi nạn tham nhũng.

Bản chất của kiểm soát quyền lực nhà nước là nhằm khắc phục sự tha hóa về quyền lực, đưa quyền lực nhà nước trở về với nguyên nghĩa của nó là quyền lực nhân dân. Kiểm soát quyền lực nhà nước là một vấn đề phức tạp bởi sự phức tạp của tổ chức quyền lực nhà nước và hoạt động thực thi quyền lực nhà nước. Tính phức tạp đó, một mặt do kiểm soát việc sử dụng quyền lực nhà nước để chống sự lạm dụng nó là đòi hỏi bắt buộc đối với bất kỳ nhà nước dân chủ và pháp quyền nào. Nhưng mặt khác, kiểm soát được việc sử dụng quyền lực nhà nước mà lại không làm mất đi tính mềm dẻo cần phải có để tiến hành các công việc nhà nước... Xét theo nghĩa hẹp, kiểm soát quyền lực nhà nước là toàn bộ những phương thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó Nhà nước và xã hội có thể ngăn chặn, loại bỏ những hoạt động sai trái của các thiết chế quyn lực nhà nước, phát hiện và điều chỉnh được việc thực thi quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyn lực nhà nước thực thi đúng mục đích chung và đạt được hiệu quả cao nhất[5]. Chính vì thế, có thể nói kiểm soát quyền lực nhà nước là cơ chế, phương thức để ngăn chặn, loại bỏ các hành vi tham nhũng.


[1] “Power tends  to corrupt, and absolute power corrupts absolutely” trong Lá thư gửi  Bishop Mandell Creighton năm 1887.

[2]. S.L. Mongtesquieu (Bản dịch của Trần Thanh Đạm):Tinh thần pháp luật, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1998, tr.39.

[3]1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd,tr.247.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.85, 86.

[5] Xem GS.TS. Trần Ngọc Đường: Phân công, phối hợp vá kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nxb, Chính trị quốc gia -Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 88-89

Đã xem 339 lần