Chủ nhật, 16 Tháng 4 2017 08:04

Kiến nghị về hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu trong phát triển kinh tế

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Xuất khẩu hàng hóa có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia nên tăng trưởng sản lượng trong xuất khẩu hàng hóa được phân ra thành tăng trưởng dựa trên các đầu vào truyền thống như vốn vật chất, lao động và tăng trưởng dựa vào năng suất thì xuất khẩu hàng hóa có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế theo một số kênh chủ yếu sau:

Một là, xuất khẩu làm tăng cơ hội việc làm ở những nước thặng dư lao động. Một mặt, xét từ phía cung, gia tăng việc làm là một nguồn quan trọng của tăng trưởng trong dài hạn. Mặt khác, việc làm cũng tác động đến nền kinh tế từ phía cầu khi thu nhập của người lao động trong khu vực xuất khẩu được nâng cao, làm gia tăng cơ hội tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, kích thích sản xuất trong nước phát triển.

Hai là, xuất khẩu tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất nước, cung cấp ngoại hốỉ cho phép tăng nhập khẩu công nghệ, hàng hóa vốn và hàng hóa trung gian cần thiết cho các ngành công nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển và làm tăng tiềm năng sản xuất của một quốc gia. Nguồn thu nhập này vượt xa các nguồn thu nhập khác kể cả vốn vay và đầu tư nước ngoài. Đối với nhiều nước đang phát triển, ngoại thương trở thành nguồn tích lũy vốn chủ yếu trong giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hóa.

Ba là, xuất khẩu dựa trên lợi thế so sánh giúp giảm được tính phi hiệu quả do phân bổ không đúng các nguồn lực gây ra, đưa nền kinh tế đến gần hơn vối sự phân bổ nguồn lực tối ưu và tăng trưởng cao hơn. Về mặt lý luận, không dễ chứng minh được tầm vóc của các chi phí phúc lợi từ việc phân bổ các nguồn lực thiếu hiệu quả. Tuy vậy, trong thực tế có thể nhận thấy các chi phí này là rất đáng kể. Theo Anne 0. Krueger, sự phân biệt về hệ số ICOR giữa các nước theo đuổi chiến lược hướng ngoại và hướng nội là rất lớn. Chẳng hạn, ICOR của những nước và vùng lãnh thổ hướng ngoại như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapo trong thời kỳ 1960-1973 tương ứng là 1,7 đến 5,7 trong khi các nước hướng nội như Chilê và Ấn Độ có hệ số ICOR là 5,5 và 5,7. Phát huy lợi thế so sánh được hiểu là bao gồm lợi thế so sánh “tĩnh” và lợi thé so sánh “động”. Do đó đây là kênh mà xuất khẩu hàng hóa có tác động tới tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn.

Bốn là, tăng năng lực, hiệu quả của doanh nghiệp trong khu vực xuất khẩu. Thị trường quốc tế với mức độ cạnh tranh cao là “sân chơi” có khả năng thẩm định và sàng lọc những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh. Những tiêu chuẩn ngặt nghèo của thị trường và khách hàng quốc tế được xem là những thách thức mà doanh nghiệp phải đáp ứng và chỉ đáp ứng được bằng những nỗ lực từ bên trong của doanh nghiệp xuất khẩu.

Năm là, khai thác lợi thế nhờ quy mô, đặc biệt quan trọng với những quốc gia bị hạn chế bởi quy mô nhỏ hẹp của thị trường nội địa. Lợi ích từ tính kinh tế của quy mô thể hiện ỏ hai khía cạnh: (i) giúp giảm chi phí trung bình của sản phẩm nhò chi phí cố định/sản phẩm giảm đi khi sản lượng gia tăng; (ii) kỳ vọng về sản lượng xuất khẩu cao khuyến khích các chủ thể xuất khẩu đầu tư vào R&D, làm tăng năng suất tiềm năng của nền kinh tế. Sự ra đời của Lý thuyết thương mại mới vối đại diện tiêu biểu là Paul Krugman, lợi thế nhờ quy mô được nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, và là một kênh tác động quan trọng của xuất khẩu tới tăng trưởng kinh tế.

Sáu là, những ảnh hưởng lan tỏa, được tiếp cận từ hai khía cạnh: lan tỏa trong nội bộ ngành có hàng hóa xuất khẩu và lan tỏa sang những ngành, những lĩnh vực khác của nền kinh tế. Thậm chí, nếu những hàng hóa xuất khẩu ban đầu là những mặt hàng công nghệ thấp, thâm dụng yếu tố cơ bản (như dép xăng đan, hoa nhựa...) thì tham gia từng bước vào thương mại thế giới vẫn cho phép các nước đang phát triển nâng cấp dần thương mại - dịch vụ. Điều này, trong dài hạn, rất hữu ích cho sự phát triển các mặt hàng xuất khẩu (như điện tử) với tiềm năng học hỏi cao.

Lập luận về tác động tích cực cửa xuất khẩu tới tăng trưởng kinh tế không hoàn toàn được ủng hộ về mặt lý thuyết, có quan điểm lạc quan (optimism), có quan điểm trung lập (neutralism), thậm chí hoài nghi, bi quan (pessimism). Cũng cần nói thêm rằng, lý thuyết thương mại và tăng trưởng cho đến nay tập trung nhiều đến mối quan hệ giữa chính sách thương mại và tăng trưởng (trade policies) hơn là mối quan hệ giữa khối lượng thương mại và tăng trưởng (trade volumes). Hai khái niệm này, khối lượng thương mại và chính sách thương mại, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, quan hệ của chúng với tăng trưởng có thể khác biệt đáng kể, bởi mối quan hệ thương mại - tăng trưởng phụ thuộc vào các nhân tố như thể chế, điều kiện thị trường và môi trường xã hội (Van der Ploeg and Arezki, 2010). Vì vậy, phân tích tác động của xuất khẩu hàng hóa tới tăng trưởng kinh tế cần tính đến những nhân tố đặc thù của các quốc gia.

Ở Việt Nam giai đoạn 2014-2016 vẫn tiếp tục phát triển xuất khẩu hàng hóa hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với các bước chuyển dịch cơ cấu các ngành sản xuất. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, phần lớn các ngành công nghiệp nền tảng, các ngành công nghiệp tiềm năng với đặc trưng sử dụng nhiều kỹ thuật và vốn sẽ phải tập trung nguồn lực cho tái cơ cấu, nâng cao trình độ kỹ thuật, tăng tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm để nâng cao chất lượng, tạo giá trị mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Vì thế, năng lực sản xuất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu thuộc nhóm ngành công nghiệp này chưa thể tăng nhanh trong những năm trước mắt.

Mặt khác, ngoài ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, đã có sự chuyển hướng mạnh nguồn vốn FDI từ các ngành cơ khí, chế tạo sang lĩnh vực kinh doanh bất động sản, khách sạn, nhà hàng tuy có giá trị gia tăng cao, tỷ suất lợi nhuận cao nhưng không tạo ra sản phẩm xuất khẩu. Xu hướng đó sẽ làm giảm năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong giai đoạn tới. Hai mặt hàng xuất khẩu chính của nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản là dầu thô và than đá sẽ giảm mạnh khối lượng xuất khẩu. Vì thế, tăng trưởng xuất khẩu trong những năm tới vẫn phần lớn dựa trên cơ sở phát triển các thị trường xuất khẩu khá ổn định. Nhóm hàng dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, thực phẩm chế biến, điện và điện tử, cơ khí, hóa phẩm tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ và nhóm nông, lâm, thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới.

Giai đoạn 2017-2020: Tạo bước chuyển mạnh mẽ từ phát triển xuất khẩu theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu. Trong giai đoạn này, phát triển xuất khẩu sản phẩm của các ngành công nghiệp áp dụng công nghệ cao với đặc trưng sử dụng nhiều vốn, hàm lượng kỹ thuật trong nhóm sản phẩm của các ngành công nghiệp hóa dầu, cơ khí chế tạo, luyện kim, chế biến khoáng sản, thực phẩm, dược phẩm, điện và điện tử - tin học, hóa phẩm tiêu dùng, cao su công nghiệp và nhựa mủ (latex), vật liệu xây dựng. Xuất khẩu của các ngành công nghiệp hiện nay đang chủ yếu dựa vào gia công cho nước ngoài (dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, phương tiện vận tải...) sẽ giảm dần nhịp độ tăng trưởng và tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng phải tăng nhanh tỷ lệ giá trị thực thu để tăng hiệu quả xuất khẩu, chuyển mạnh từ phát triển xuất khẩu theo chiều rộng sang phát triển xuất khẩu theo chiều sâu, tự chủ trong khâu nghiên cứu và phát triển, thiết kế, mẫu mã, nguyên phụ liệu, phụ kiện và marketing. Các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dược phẩm, hóa phẩm tiêu dùng cần phát triển nhanh, tạo giá trị gia tăng cao để có kim ngạch xuất khẩu lớn, tạo mũi đột phá tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu trong giai đoạn 2016-2020. Phát triển xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vật liệu xây dựng và hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu theo phương thức xuất khẩu trực tiếp (xuất CIF), hình thành mạng lưới liên kết sản xuất, kinh doanh để xây dựng chuỗi giá trị của từng ngành sản phẩm do doanh nghiệp Việt Nam chi phối từ nguồn hàng đến mạng lưới phân phối trực tiếp trên các thị trường xuất khẩu chính.

Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn này là cần cơ chế, chính sách quản lý xuất khẩu vừa phải đổi mới cho phù hợp với yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế, vừa phải bảo đảm tính đồng bộ, mục tiêu rõ ràng trong dài hạn và minh bạch, dễ tiên lượng. Trong thời gian tới, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và điều hành xuất khẩu cần chú ý các vấn đề sau:

Thứ nhất, thuận lợi hóa cho xuất khẩu, rộng quyền kinh doanh hợp pháp, hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các chủ thể tham gia xuất khẩu. Chính sách xuất khẩu, một mặt, nên được thực hiện theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, thương mại; mặt khác, cần giảm bảo hộ đôi với những ngành kém hiệu quả để từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành, khắc phục tình trạng thiên lệch bất lợi cho xuất khẩu, áp dụng hiệu quả các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ xuất khẩu. Từng bước xóa bỏ tình trạng độc quyền trong kinh doanh dịch vụ của một số ngành để nâng cao hiệu quả hoạt động trong những lĩnh vực này, góp phần giảm chi phí kinh doanh cộng đồng doanh nghiệp. 

Trong ngắn hạn, chính sách cần hướng vào cung cấp thông tin, giảm chi phí cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt cần tiếp tục cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, rà soát chính sách và điều chỉnh để nâng cao hiệu quả thực thi, nhất là với các công cụ tài chính, nới lỏng các quy định về hải quan, tiếp tục hoàn thiện biểu thuê quan. Tăng cường các biện pháp tạo thuận lợi trong thanh toán quốc tế, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, dịch vụ hỗ trợ thương mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu.

Về trung và dài hạn, chính sách cần chuyển cách thức hỗ trợ rời rạc theo lĩnh vực ngành nghề, địa bàn, đối tượng doanh nghiệp, sản phẩm cụ thể sang hỗ trợ một cách đồng bộ các yếu tố làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Định hướng quy hoạch và phát triển có hệ thống các cụm ngành như dệt may, thủy sản, điện tử bao gồm cả những doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu, qua đó tạo mạng liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp, tạo lực đẩy để các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị. Tăng hiệu lực thực thi Luật sở hữu trí tuệ và tăng vai trò của các hiệp hội cũng như hình thành mạng lưới hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, triển khai sản phẩm mới.

Sử dụng hiệu quả các công cụ tài chính hỗ trợ xuất khẩu: Cải cách hệ thống tài chính để theo kịp đà phát triển của nền kinh tế. Nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng chính thức, cả tín dụng đầu tư lẫn tín dụng vốn lưu động. Tăng cường vai trò và hiệu quả hoạt động của Quỹ tín dụng hỗ trợ xuất khẩu. Thực hiện cơ chế giám sát hoạt động tài chính của các doanh nghiệp nhà nước để bảo đảm tình trạng tài chính lành mạnh, hạn chế tối đa việc phát sinh nợ xấu.

Hài hòa giữa chính sách thúc đẩy xuất khẩu với bảo vệ môi trường. Các yêu cầu về bảo vệ môi trường cần được đưa vào ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư. Kiên quyết không cho phép đưa vào xây dựng, vận hành, khai thác các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Cần tính toán một cách có khoa học giữa mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và những thiệt hại môi trường do việc tăng trưởng xuất khẩu gây ra. Theo quan điểm kinh tế, một lựa chọn tối ưu là “nội ứng hóa các ngoại ứng”, nghĩa là những chi phí do thiệt hại môi trường phải được đưa vào trong giá của hàng hóa, dịch vụ gây ra thiệt hại đó. Nội ứng hóa chi phí môi trường gia tăng sẽ thay đổi cách thức đầu tư, thay đổi sản xuất theo hướng sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên và năng lượng, giá trị sản phẩm hàng hóa sẽ phù hợp hơn với điều kiện sinh thái. Đây là là điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của chủ thể xuất khẩu trong giai đoạn mới.

Tóm lại, các giải pháp đưa ra nhằm thúc đẩy những hiệu ứng tích cực, hạn chế những hiệu ứng tiêu cực, cũng như khắc phục nguyên nhân gây ra những hiệu ứng tiêu cực này. Trên thực tế, để phát huy hiệu quả, các chính sách và biện pháp cần thực hiện đồng bộ nhưng vẫn phải bảo đảm sự phân kỳ và có trọng tâm, trọng điểm, cần huy động được sự phối hợp giữa các bên có liên quan, cần có sự phối hợp giữa kế hoạch tổng thể vói xử lý các tình huống phát sinh, có sự thống nhất giữa các các biện pháp ngắn hạn và chiến lược dài hạn. Quan trọng hơn, chất lượng, hiệu quả và bền vững luôn phải được đề cao trong chiến lược tăng trưởng kinh tế hướng về xuất khẩu, trong bất kỳ bối cảnh và giai đoạn nào.

Đã xem 914 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành