Chủ nhật, 14 Tháng 5 2017 08:08

Đánh giá khả năng sản xuất và xuất nhập khẩu của Nga đối với thị trường dầu mỏ

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Giá dầu đã giảm mạnh từ mức 15 USD/ tháng, vào tháng 6-2014 xuống còn, dưới 35 USD/thùng vào tháng 1/2015 và 27 USD/thùng vào ngày: 20-01-2016 đã có tác động rất lớn (cả tích cực lẫn tiêu cực) tới nhiều nước trên thế giới. Điều này đang gây ra thảm hoa cho nhiều nước xuất khẩu và phụ thuộc vào Sản xuất dầu mỏ, dẫn tới những hệ quả địa chính trị đối với nhiều nước, trong đó có Nga.

Sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt ngày càng trở nên quan trọng đối với nước Nga. Hydrocarbon chiếm tới hơn một nửa nguồn thu ngân sách và 2/3 kim ngạch xuất khẩu của nước này trong thời kỳ trước năm 2014. Nhìn con số này dễ thấy “sức mạnh” kinh tế Nga dựa trên nền tảng khá yếu và cơ cấu kinh tế Nga tương tự một nước đang phát triển. Điều đó có nghĩa là, kinh tế Nga chủ yếu dựa vào việc khai thác tài nguyên để bán hơn là một “cường quốc” kinh tế. Trong hai nhiệm kỳ tổng thống (2000-2008), Tổng thống Putin có được may mắn là giá dầu tăng lên một mạch thẳng đứng từ 18,5 USD/thùng tới đỉnh là 132 USD/thùng vào năm 2008. Nhờ vậy, Nga đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 5% thời kỳ này, tăng nguồn dự trữ ngoại tệ lên đến 750 tỷ USD vào năm 2008, và tiếng tăm của Tổng thông Putin nhờ vào “dầu mỏ giá cao” cũng nổi lên từ đây, Tuy nhiên, có một điều đáng nói là trong những năm qua, mặc dù được hưởng lợi từ giá dầu tăng cao, nhưng nước Nga đã không thành công trong việc đa dạng hóa nền kinh tế. Việc phân phối nguồn lợi thu được từ dầu mỏ và khí đốt thông qua các ngân hàng cho các doanh nghiệp vay không phụ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế, mà lại phụ thuộc vào ý chí chủ quan và chính sách của chính phủ.

Kinh tế Nga năm 2014 chỉ tăng trưởng với tốc độ 0,6% so với tốc độ tăng trưởng 1,3% năm 2013 và 2,4% của các năm trước đó. Vào buổi họp báo thường niên cuối năm 2014, Tổng thông Liên bang Nga Vladimir Putin đã phủ nhận khả năng nước Nga sẽ vỡ nợ nếu như giá dầu tiếp tục hạ vào năm 2015. Ông thậm chí còn khẳng định nước Nga vẫn có thể phát triển thịnh vượng với giá dầu chỉ 60 USD/thùng. Nước Nga vốn xây dựng kế hoạch tài chính ba năm 2015-2017 là 100 USD/thùng (nhưng khi đó Bộ Tài chính Nga vẫn đang hy vọng giá dầu có thể quay trở lại ổn định ở mức 80 USD/thùng trong năm 2015), do đó vẫn chưa có những động thái điều chỉnh chi tiêu ngân sách. Thêm vào đó, việc Nga tham gia vào tình hình ly khai ở Đông Ukraina đòi hỏi tăng chi ngân sách 30%. Điều này cũng có nghĩa là phải giảm ưu tiên trước hết cho phát triển hạ tầng trong khi vẫn phải cố gắng duy trì an sinh xã hội.

Thế nhưng năm 2015, giá dầu đã không phục hồi như nước Nga mong đợi, thậm chí còn lao dốc sâu đã làm cho kinh tế Nga lâm vào suy thoái sâu. Tăng trưởng kinh tế của Nga giảm 3,8% do chịu nhiều tác động tiêu cực của giá dầu giảm sâu kéo dài và do lệnh cấm vận của phương Tây. Ngân sách của Nga trong năm 2015 được xây dựng dựa trên kịch bản giá dầu ở mức 50 USD/thùng trong khi giá dầu vào nửa cuối năm 2015 chỉ dao động ở mức 40 USD/thùng. Trong năm 2015, các công ty Nga gặp phải vấn đề lớn nhất là phải trả 100 tỷ USD nợ nước ngoài (phần lớn là của các ngân hàng phương Tây), khi đồng rúp mất giá thì lại càng thiệt hại khi trả nợ bằng đôla. Những ông lớn trong ngành năng lượng nhu Gazprom và Lukoil đã lâm vào tình trạng khó khăn hơn nhiều. Cuộc khủng hoảng tiển tệ mà nhiều người lo sợ sẽ xảy ra ở Nga đã trở thành hiện thực. Giá trị đồng rúp đã bị đẩy xuống mức thấp kỷ lục là 1 USD đổi được 82 rúp vào ngày 21-1-2016, trong khi hai năm trước đó (tháng 1-2014), 1 USD đổi được 35 rúp. Tâm trạng ở Moscow gần như là hoảng loạn. Người Nga đã đúng khi lo sợ rằng họ đang đứng trước sự kết hợp tồi tệ nhất đối vớii một nền kinh tế: suy thoái sâu và lạm phát tăng chóng mặt (stagflatioiif). Theo IMF, GDP của Nga giảm 3,8% trong năm 2015 và dự báo sẽ giảm tiếp thêm 0,6% trong năm 2016. Bên cạnh đó, một loạt các vấn đề khó khăn về kinh tế nổi lên và có thể so với thời điểm tháng 8-1998, khi nước Nga vỡ nợ và khiến kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng . Đó là các vấn đề sau:

Thứ nhất, sự rút vốn của các nhà đầu tư khởi Nga. Do các lệnh trừng phạt của phương Tây  và giá dầu ở mức thấp, nguồn thu ngoại tệ của Nga sụt giảm mạnh. Đồng vốn cũng bị rút ra ồ ạt và các doanh nghiệp cũng như hộ gia đình đang tìm cách bán tháo đồng rúp để chuyển sang lưu giữ đôla Mỹ hay các đồng tiền mạnh khác. Kết quả là dự trữ ngoại hối của Nga cũng như giá trị của đồng rúp giảm mạnh, làm tăng nguy cơ về một cuộc khủng hoảng tài chính ở trong nước. Các biện pháp hành chính để ngăn các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khởi nước Nga thậm chí còn thúc đẩy quá trình này diễn ra nhanh hơn nữa do sự sụt giảm lòng tin của nhà đầu tư.

Thứ hai, nền kinh tế phải đối mặt với tình trạng suy thoái đi liền với lạm phát cao trầm trọng hơn. Điều này có thể thấy tại Trung tâm tài chính ở khu phức hợp Moskva City trị giá 12 tỷ USD có tòa tháp Mercury City Tower cao nhất châu Âu và một tòa tháp khác cao thứ ba khu vực, nhưng những tòa tháp này đang bị bỏ trống hơn một nửa. Thậm chí trang Business Insider còn so sánh siêu trung tâm tài chính trên với hình ảnh của nước Nga hiện nay trên trường quốc tế: bề ngoài thì bóng bẩy, thậm chí có phần khiến đối phương nể sợ, nhưng bên trong thì trống rỗng và lãng phí. Đồng rúp giảm giá quá mạnh đã dẫn đến lạm phát cao, trong khi nguồn thu nhập từ thị trường nước ngoài giảm mạnh cũng đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế nội địa, gây ra suy thoái kinh tế.

Thứ ba, đồng rúp bị thả nổi hoàn toàn. Động thái của Ngân hàng Trung ương Nga đối với đồng rúp cho thấy những khó khăn của nền kinh tế Nga. Phản ứng ban đầu của Ngân hàng Trung ương Nga là sử dụng lượng dự trữ ngoại hối dồi dào để đối phó với những hệ quả của lệnh trừng phạt. Cho đến nay, Ngân hàng Trung ương Nga đã tung ra hàng trăm tỷ đôla Mỹ để can thiệp vào thị trường ngoại hối cũng như nâng lãi suất cơ bản để ngăn chặn đà lao dốc của đồng rúp. Tuy nhiên, những động thái này lại khiến niềm tin vào đồng rúp giảm mạnh hơn nữa. Cuộc khủng hoảng kinh tế này đã khiến đồng rúp của Nga mất giá tới 72,2% so với đồng đôla Mỹ trong khoảng thời gian từ tháng 3-2014 đến tháng 12-2015. Giá dầu mỏ lao dốc không phanh và dòng vốn bị rút ra ồ ạt  đang làm suy yếuvà giảm tính cơ động của Ngân hàng Trung ương nước này, buộc Ngân hàng Trung ương Nga phải từ bỏ và thả nổi hoàn toàn đồng rúp vào đầu tháng 11-2014. Nga phải phản ứng mạnh hơn với một loạt biện pháp can thiệp cả vể mặt tài khóa và tiền tệ, trong đó có tăng lãi suất và cắt giảm chi tiêu. Nga phải cắt giảm chi tiêu 10% cho tất cả các khoản mục chi tiêu trong năm 2015 và 2016, chỉ trừ có chi tiêu quốc phòng và an sinh xã hội . Tuy nhiên, cả hai cách tiếp cận này đều ảnh hướng nghiêm trọng đến các hoạt động kinh tế.

Thứ tư, tín nhiệm nợ quốc gia của Nga bị hạ xuống mức với giá trị. Dự trữ ngoại hối của Nga xuống còn 416 tỷ USD vào trung tuần tháng 12-2014, giảm xuống mức 300 tỷ USD vào giữa năm 2015 và tiếp tục xuống thấp nữa vào cuối năm 2015 do phải sử dụng một số lượng lớn để mua rúp tránh cho đồng tiền của mình không bị mất giá so với đôla Mỹ. Tuy nhiên, sự tiếp tục của xu hướng này đã làm cho Nga bị hạ xếp hạng tín nhiệm, khiến chi phí đi vay tăng lên và khả năng tiếp cận thị trường vốn cũng sẽ bị ảnh hưởng. Ngày 26-1-2015 Standard and Poor’s (S&P) hạ mức tín nhiệm của Nga xuống còn BB+, đồng hạng với các nước như Bungari và Inđônêxia (tức là mức được khuyến cáo không nên đầu tư) ; tiếp đó Moody’s Investors Service cũng hạ mức tín nhiệm nợ quốc gia của Nga xuống  mức “junk” (vô giá trị) vào ngày 21-2-2015 . Điều này đặc biệt gây khó khăn đối với các doanh nghiệp và ngân hàng phải trả nhiều ruble hơn để có được lượng đôla Mỹ cần thiết nhằm đáp ứng các nghĩa vụ nợ nước ngoài.

Thứ năm, tài sản của Nga bị bán tháo trên thị trường chứng khoán thế giới. Khả năng xảy ra hiệu ứng dây chuyền đối với kinh tế thế giới trong trường hợp khủng hoảng tài chính xảy ra ở Nga thấp hơn so với năm 1998 nhưng một số ngân hàng và các nhà đầu tư trên thế giới, trong thời gian gần đây, đã phản ứng với các lệnh trừng phạt của phương Tây bằng cách giảm nắm giữ tài sản Nga và chuẩn bị cho kịch bản xấu nhất. Điều này đã làm cho khó khăn kinh tế của Nga thêm trầm trọng.

Thứ sáu, vấn đề địa chính trong quyết định của Nga. Địa chính trị là yếu tố khó đoán nhất trong bức tranh kinh tế Nga. Tổng thống Vladimir Putin đang đối mặt với hai lựa chọn: giảm can thiệp vào Ucraina để hóa giải các lệnh cấm vận của phương Tây hoặc chuyển hướng sự chú ý của dư luận trong nước sang Ucraina nhưng đối mặt với rủi ro khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Đó là chưa kể đến việc Nga đang can dự trực tiếp hoặc gián tiếp vào điểm nóng khác là cuộc nội chiến tại Syri khiến Nga phải chi phí thêm rất nhiều trong khi nguồn thu ngân sách ngày càng hạn hẹp.

Tóm lại, hiện nay, nước Nga không chỉ chịu tác động của khủng hoảng giá dầu, mà đang gánh chịu cùng lúc ba cuộc khủng hoảng: khủng hoảng giá dầu đánh mạnh trực tiếp vào nguồn thu ngân sách; khủng hoảng kinh tế, tài chính và các nhà đầu tư cũng như các quỹ đang chuyển mạnh nguồn vốn từ Nga ra ngoài do cấm vận kinh tế; khủng hoảng lòng tin và bất ổn tiềm tàng trong xã hội. Bên cạnh đó, lệnh trừng phạt kinh tế của phương Tây khiến Nga thực sự đang đối mặt với các khó khăn kinh tế lớn nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh đến nay: dự kiến nhiều chương trình y tế, phúc lợi bị cắt giảm, còn triển vọng cho các năm sau cũng chưa thấy sáng sủa và có nhiều vấn đề xã hội tiềm ẩn. Thậm chí, Bộ trưởng Tài chính Anton Siluanov còn đề nghị xem xét lại kế hoạch hiện đại hóa quốc phòng trị giá 550 tỷ USD từ nay đến năm 2020 vì “không biết lấy tiền ở đâu ra”. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, giá dầu lao dốc có thể sẽ giúp Nga có thêm động lực và quyết tâm để cải cách chính trị, tái cơ cấu nền kinh tế đã bộc lộ dấu hiệu già cỗi, lỗi thời của mình. Rất có thể những nỗ lực này sẽ tạo ra một nước Nga mói với nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn.

Đã xem 75 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành