Thứ ba, 16 Tháng 5 2017 08:15

Trách nhiệm bồi thường của tòa án - Thực trạng các quy định của pháp luật

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Hoạt động xét xử là hoạt động có tính đặc thù và chỉ do Tòa án thực hiện. Do đó, yêu cầu ti cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Đồng thời, vi việc giải quyết vụ án hình sự, pháp luật Việt Nam cho phép Tòa án giải quyết cả vấn đề dân sự liên quan đến tội phạm.

Trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có quy định tòa án sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp:

Thứ nhất, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án vì người đó không phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vị phạm tội;

Thứ hai, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Thứ ba, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

Thứ tư, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tôi, bản án đã cố hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội”.

Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án cấp phức thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội. Đây là trường hợp bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc về trách nhiệm của Tòa án cấp sơ thẩm. Quy định này là hợp lý, đã gắn trách nhiệm của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc xét xử và ra bản án sơ thẩm kết tội bị cáo. Để hiểu rõ, chúng ta cùng nhau nghiên cứu tình huống sau: Ngày 2-6-2003, ông Hùng bị khởi tố và bị bắt tạm giam về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Sau đó, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xét xử sơ thẩm kết án ông Hùng về tội danh nêu trên. Khi xét xử phúc thẩm, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại. Sau đó, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh ra quyết định đình chỉ điều tra bị can vì chưa đủ căn cứ vững chắc, đầy đủ kết luận ông Hùng thực hiện hành vi phạm tội, và Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh ra quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với ông Hùng. Sau đó, ông Hùng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Khi giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Hùng, Tòa án đã nhận định: “Xét việc anh Hùng khởi kiện Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị xét xử oan sai cho anh là có cơ sở” .

Với hoàn cảnh tương tự của vụ việc ở thời điểm hiện tại sẽ được giải quyết theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các Văn bản liên quan. Trong vụ việc này, ông Hùng bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tuyên có tội, nhưng Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, mà sau đó Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định đình chỉ điều tra vì ông Hùng không thực hiện hành vi phạm tội. Đây là trường hợp Toà án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp nêu trên.

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng quy định tòa án cấp phúc thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi

Thứ nhất, Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Thứ hai, Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án phúc thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

Thứ ba, Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội. Quy định này là hợp lý, đã gắn trách nhiệm của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xét xử và ra bản án phúc thẩm kết tội bị cáo.

Để hiểu rõ quy định trên, chúng ta cùng nhau nghiên cứu vụ việc sau: Ông Cung bị khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 53/HS-ST, ngày 22-8-1985 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum và Bản án hình sự phúc thẩm số 205/HS-PT, ngày 20- 10-1985 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng. Theo hai bản án này, Tòa án đã kết tội ông Cung 3 năm tù về tội “Chống đối việc thi hành án đã có hiệu lực pháp luật, chống đối với cán bộ trong khi thi hành nhiệm vụ” theo Điều 9, sắc lệnh số 03/SL, ngày 15-3-1976. Tại Bản án giám đốc thẩm số 42/ƯB, ngày 29-8-1987 của ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên bố ông Cung không có trách nhiệm hình sự về các hành vi đã nêu trong bản án hình sự phúc thẩm của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng. Sau đó, ông Cung chết, những người được thừa kế quyền của ông Cung khởi kiện yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Khi giải quyết tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại của những người thừa kế quyền của ông Cung theo thủ tục phúc thẩm, Tòa án đã xét rằng: “Nay ông Cung đã chết, những người được thừa kế quyền của ông Cung đã khởi kiện, yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng bồi thường thiệt hại cho ông Cung do ông Cung bị oan, được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và áp dụng các Văn bản pháp luật có liên quan để giải quyết, buộc Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng bồi thường cho ông Cung thông qua những người đại diện là có căn cứ, đúng pháp luật” .

Ở đây, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã áp dụng Điều 32, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà, xác định cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự cho ông Cung là Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng. Việc xác định cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp nêu trên là thuyết phục hồ sơ pháp lý là điểm a khoản 2 Điều 32, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Tòa án cấp tỉnh hay tương đương. Khoản 3 Điều 32, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về “Trách nhiệm bồi thường Tòa án nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự” quy định: “Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Tòa án quân sự quân khu và tương đương xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Tòa án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau

Một là, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Hai là Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Ba là, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

Trách nhiệm bồi thường của tòa án nhân dân tối cao cũng được quy định cụ thể trong luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương (sau đây gọi chung là Toà có thẩm quyền) xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; hoặc Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; hoặc Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, có thể thấy rằng, để bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền con người, các quyền cơ bản của công dân đã được pháp luật ghi nhận, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để chống lại mọi hành vi vi phạm pháp luật, nhất là đối với các loại tội phạm. Nhà nước thông qua hoạt động xét xử của Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, nhưng cũng chính trong hoạt động xét xử, đặc biệt là xét xử các vụ án hình sự mà quyền của cá nhân cũng dễ bị vi phạm.

Đã xem 235 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành