Thứ năm, 18 Tháng 5 2017 08:26

Vai trò của Mỹ đối với thị trường dầu mỏ thế giới

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ chưa biết có thể vượt qua được sự sụt giảm giá dầu đáng kể và kéo dài trong tương lai hay không nhưng hiển nhiên các nước nhập khẩu dầu đã và sẽ tiếp tục được hưởng lợi lớn. Đồng thời, giá dầu thấp cũng thúc đẩy tổng cầu ở châu Âu, châu Á và các khu vực nhập khẩu dầu khác tăng lên, do đó góp phần thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển.

Mỹ là quốc gia có đặc điểm địa lý giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc và Mêhicô ở phía nam; Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp Canada ở phía đông; Tiểu bang Hawaii nằm giữa  Thái Bình Dương. Với 9,83 triệu km2, trong lãnh thổ và lãnh hải của Mỹ có nhiều trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện, trong đó có nhiều giếng dầu đã và đang được thăm dò và khai thác. Với khoảng 316 triệu dân, là nền kinh tế lớn nhất thế giới có GDP tính trên giá trị thực tế được ước tính cho năm 2015 là trên 18.100 tỷ USD (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa), GDP bình quân đầu người của Mỹ là 56.421 USD, đứng hạng 5 trên thế giới theo giá trị thực, nên nhu cầu của Mỹ đối với dầu khí là rất lớn. Như vậy, Mỹ vừa là nước sản xuất, vừa là nước tiêu thụ rất nhiều dầu khí, thuộc loại lớn nhất thế giới. Cho đến: cuối năm 2006, khoảng 19% đất công đã được thuê muốn cho việc khoan tìm khí đốt thiên nhiên và dầu mỏ thương mại. Mỹ cũng là nước thải ra nhiều khí carbon dioxide, đứng thứ hai sau Trung Quốc trong việc đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch. Chính sách năng lượng của Mỹ được bàn cãi khắp nơi; nhiều lời kêu gọi đưa ra yêu cầu Mỹ nên đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc chiến chống hiện tượng nóng lên của Trái đất. Giá dầu giảm có một số tác động đến nền kinh tế Mỹ như sau:

Thứ nhất, giá dầu thấp là tin tốt cho nền kinh tế Mỹ từ nửa cuối năm 2014, bởi nó đồng nghĩa với việc thu nhập thực tế cao hơn cho người tiêu dùng nước này. Giá dầu thấp hơn đang chuyển thu nhập thực tế từ những nhà sản xuất dầu mỏ sang các hộ gia đình, điều này làm tăng nhu cầu ngắn hạn bởi thu nhập khả dụng và tỷ lệ tiêu dùng của các hộ gia đình cao hơn. Điều này sẽ thúc đẩy các công ty Mỹ thuộc tất cả các ngành trong nền kinh tế mở rộng sản xuất. Đến lượt mình, nền kinh tế phát triển sẽ kích thích nhu cầu đối với dầu mỏ của Mỹ, làm cho ngành công nghiệp dầu mỏ của Mỹ khởi sắc, góp phần thu hút đầu tư vào hoạt động thăm dò, khai thác, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế.

Thứ hai, Mỹ bắt đầu tái xuất khẩu dầu thô. Do giá dầu thấp, nên vào ngày 18-12-2015, Quốc hội Mỹ đã thông qua quyết định dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ của Mỹ. Với việc dỡ bỏ lệnh cấm, 9,6 triệu thùng dầu thô được sản xuất mỗi ngày trên đất Mỹ và trên 700 triệu thùng dầu thô dự trữ thương mại của quốc gia này có thể được xuất khẩu. Tuy nhiên, theo dự báo của Viện nghiên cứu IHS, sản lượng xuất khẩu dầu của Mỹ cũng sẽ không cao hơn quá nhiều, chỉ đạt khoảng 665.000 thùng/ngày vào năm 2016 và sẽ lên đến 1,5 triệu thùng/ngày vào năm 2020. Trung tâm nghiên cứu IHS Jane tính toán rằng, hoạt động xuất khẩu dầu của Mỹ trong năm 2016 sẽ góp phần tăng GDP của nước này thêm 73 tỷ USD và lên đến 134 tỷ USD vào năm 2018. Ngoài ra, hàng trăm ngàn việc làm mới cũng sẽ được tạo ra. Tất cả các yếu tố trên chính là chất xúc tác hiệu quả cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế nước Mỹ.

Thứ ba, thị trường dầu khí của Mỹ được mở rộng. Khi giá dầu suy giảm mạnh, sản lượng dầu của các công ty Mỹ vẫn đạt 9,6 triệu thùng/ngày vào tháng 6-2015 và 9,22 triệu thùng/ngày vào đầu tháng 1-2016 đã làm cho thị phần dầu khí của Mỹ tiếp tục được mở rộng. Đây cũng là lúc Mỹ hội đủ nội lực tham gia chi phối thị trường dầu mỏ thế giới, hướng đến việc làm suy yếu hơn nữa sức mạnh của Nga và khối OPEC (OPEC hiện chỉ còn chiếm khoảng 30% thị phần dầu mỏ thế giới, so với mức 55% năm 1973). Mặt khác, việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu cũng sẽ giúp các đồng minh của quốc gia này ở châu Âu và châu Á giảm bớt sự phụ thuộc vào dầu mỏ Nga. Theo tính toán của Trung tâm nghiên cứu IHS Jane, riêng khu vực Đông Âu sẽ giảm hơn 1/3 sản lượng dầu nhập khẩu trực tiếp từ Nga, Vênêxuêla và các quốc gia OPEC khác sau sự kiện này. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng, Mỹ không phải là nước có tiềm năng xuất khẩu dầu với số lượng lớn. Dù Mỹ có thể có sản lượng tương đương với Arập Xêút và Nga, cũng như có thể trở thành nước sản xuất dầu mỏ của thế giới, nhưng nhu cầu tiêu thụ trong nước của quốc gia này quá lớn (lên đến 19 triệu thùng/ngày). Vì thế, Mỹ vẫn phải nhập siêu dầu để đáp ứng nhu cầu trong nước vá rất khó có thể xuất khẩu quá nhiều. Tuy nhiên, nước Mỹ ngày nay không còn phải lo thiếu hụt năng lượng vì theo số liệu năm 2015, nguồn cung dầu trong nước có thể đáp ứng 89% nhu cầu của quốc gia này.

Thứ tư, giá dầu giảm thấp đang gây ra hiện tượng tựơng tự cách người dân thế chấp nhà ở dưới chuẩn để vay tiền của ngân hàng vào đầu thế kỷ XXI và đã gây khủng hoảng tài chính năm 2008 ở Mỹ. Theo đó, trước đây, khi giá dầu lên cao, nhiều ngân hàng, gồm một số ngân hàng lớn nhất ở Wall Street đã cho các công ty năng lượng vay để khoan dầu ở Bắc Dakota, Texas và nhiều nơi khác. Khi giá dầu giảm thấp, dòng tiền mặt của các công ty dầu chậm lại vè các công ty gặp nhiều khó khăn hơn để hoàn trả vốn vay. Số công ty dầu phá sản đang gia tăng và thị trường trái phiếu lợi suất cao (junk bond) đã bị lung lay do sự phá sản của các công ty dầu. Các ngân hàng và công ty tài chính như JP Morgan Chase, Wells Fargo, Citigroup và Bank of America đều đang phải giảm các khoản cho vay năng lượng hay dành nhiều tiền hơn để bù lỗ. Trung tuần tháng 1-2016, lãnh đạo Bank of America đã phải thông báo với các nhà đầu tư rằng các khoản cho vay năng lượng chiếm khoảng 2% tổng cho vay và có thể trở thành các khoản nợ xấu   .

Thứ năm, lợi nhuận của các công ty năng lượng Mỹ đang giảm mạnh gây khó khăn cho các công ty này và kinh tế Mỹ. Với mức giá hiện tại, ngay cả đối với nhữngcông ty hàng đầu trong ngành dầu mỏ Mỹ như ExxonMobil và Chevron cũng phải “lao đao”, đối mặt với áp lực cắt giảm lợi tức để hạ chi phí. Đối với Conoco Phillips, cứ mỗi 10 USD giá dầu giảm, hãng này mất đi 1,79 tỷ USD  doanh thu. Nhiều nhà đầu tư ngày càng lo ngại thiệt hại sẽ còn lan rộng do giá cổ phiếu có thể sẽ còn xuống nữa. Thực tế, Mỹ đang đối mặt với rất nhiều hệ quả khôn lường từ sự sụt giảm sâu của giá dầu, nhất là việc kéo cổ phiếu các công ty này giảm theo và kéo cả thị trường chứng khoán đi xuống. Trong số 20 mã cổ phiếu giảm giá  nhiều nhất trong S&P 500 năm 2015, 13 mã là của các công ty năng lượng, trong đó có 2 công ty dầu lớn nhất thế giới là Exxon Mobil và Chevron (cũng nằm trong 301 thành viên của chỉ số công nghiệp Dow Jones). Các nhà đầu tư cũng đang bán cổ phiếu của các công ty có liên 1 quan tới ngành công nghiệp dầu khí, như một số ngân hàng. Giá dầu hiện đã giảm thấp đến mức các nhà đầu tư lo ngại rằng điều đó có nghĩa là tăng trưởng kinh tế Mỹ cũng như kinh tế toàn cầu yếu hơn nhiều BO với dự kiến, có thể ảnh hưởng tới mọi doanh nghiệp; Bởi vậy, tại Mỹ, một số nghị sĩ còn đưa ra phương án lập các gói hỗ trợ khẩn cấp để “cứu” các tập đoàn dầu lửa lớn. Bộ đề xuất Chính phủ Mỹ phải có những biện pháp hỗtrợ các công; ty dầu khí trong nước để tiếp tục duy trì tình trạng có lợi này lâu đến mức họ muốn.

Thứ sáu, muốn tiêu diệt nhưng có thề Mỹ đang gây ra sự phá sản hàng loạt cho các công ty dầu đá phiến của mình. Hiện nay, nhiều ý kiến cho: rằng Mỹ là nguyên nhân chính trong việc duy trì giá dầu hạ để cố gắng “đánh gục” nước nhà của Tổng thống Vladimir Putin, nước có nên kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt. Trong khi đó, Arập Xêút và OPEC kỳ vọng Các công ty năng lượng của Mỹ sẽ phải ngừng hoạt động do giá dầu thấp bởi lẽ khi giá dầu thấp sẽ làm cho các nhà sản xuất dâu đá phiến với 3 triệu người lao động và ngành công nghiệp khai thác dầu khí của Mỹ lao đao, làm Mỹ phải đối mặt với nguy cơ bị chèn ép và thu hẹp khả năng sảnxuất, từ đó có thể tạo ra những hệ lụy khôn lưòng. Công ty cung cấp dịch vụ thông tin năng lượng Genscape Inc. (Mỹ) nhận định trong năm 2015, ngành công nghiệp dầu đá phiến Mỹ bị tác động rất nghiêm trọng. Theo Fadel Gheit, chuyên gia phân tích cao cấp của hãng đầu tư Oppenheimer & Co.Inc: “Một nửa các nhà sản xuất dầu của Mỹ sẽ không thể tiếp tục duy trì hoạt động cho đến khi giá dầu phục hồi lên mức 50-60 USD/thùng. Mức 70 USD/thùng may ra có thể giúp họ tồn tại”. Chuyên gia này cũng nhận định, năm 2017 giá dầu mới có thể tìm đến được điểm cân bằng mới ở mức 60 USD/thùng, Tới lúc đó thì đã quá muộn đối với các nhà sản xuất dầu của Mỹ theo công nghệ đá phiến, với chi phí cao hơn các biện pháp tách dầu thường. Nếu các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ phá sản hàng loạt thì sau khi giá dầu lên, kinh tế Mỹ lại quay trở lại sự phụ thuộc vào các nước đối tác dầu mỏ của mình ở Trung Đông và làm cho các đối thủ xuất khẩu dầu mỏ của mình hồi phục. Đây là điều Mỹ hoàn toàn không muốn.

Thứ bảy, các công ty dầu khí chuyển hướng tập trung vào những hoạt động đem lại lợi nhuận, nhất là khai thác những mở dầu có chi phí thấp, nghĩa là khai thác dầu nhiều hơn với lượng giàn khoan ít hơn. Các công ty dầu khí lớn của Mỹ như Exxon Mobil, Chevron, Shell và Statoil đều phải cắt giảm ngân sách và giảm đầu tư thêm cho lĩnh vực khai thác dầu khí trong năm 2016. Đồng thời, Chủ tịch Eckard đánh giá rằng, khi các công ty khai thác dầu giảm chi phí để thích ứng với sự suy giảm của giá dầu thì họ sẽ khai thác một cách có chọn lọc hơn. Các khảo sát địa chất sẽ được giám sát kỹ hơn nhằm đảm bảo chất lượng mở đầu là tốt nhất và chỉ có những mở dầu có nhiều khả năng đem lại lợi nhuận nhất mới được khai thác. Theo ông Troy Eckard, Chủ tịch tập đoàn năng lượng Eckard Global LLC thì họ sẽ chỉ tiến hành khai thác các mở dầu tốt nhất trong vòng 12-18 tháng tới, tức là tới giữa năm 2017. Tình hình ngày càng thú vị. 

Tóm lại, về tổng thể, lợi ích đạt được của nền kinh tế Mỹ là rất lớn khi giá dầu giảm: cứ mỗi thùng dầu giảm 10USD, thì GDP của Mỹ tăng được 0,1% - đây là một con số ấn tượng. Citigroup và Goldman Sachs Group Inc đều cho rằng giá dầu thấp có thể sẽ kích thích thị trường. Như thế có thể dự đoán, nền kinh tế Mỹ được hưởng lợi nhiều từ giá dầu thô giảm. Một bài phân tích trên tờ Forbes nhận định, giá dầu thô giảm làm cho người Mỹ giảm được chi phí đi lại, chi phí sản xuất do đó cũng giảm theo và đồng đôla Mỹ mạnh lên. Tuy nhiên, giá dầu giảm không chỉ đem lại hoàn toàn lợi ích cho Mỹ vì Mỹ còn là quốc gia sản xuất và tiêu thụ một lượng lớn dầu mỏ.

Đã xem 80 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành