Thứ bảy, 17 Tháng 6 2017 08:41

Kỹ năng thẩm định dự thảo nghị quyết, chính sách pháp luật do Chính phủ xây dựng

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Trong bất kỳ chính thể quốc gia nào, chính phủ luôn có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước. Là cơ quan thực thi pháp luật, quản lý và điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội, Chính phủ là nơi đề xuất các giải pháp và chính sách để quản lý nhà nước tốt. Vì vậy, sự phát triển của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến sự hưng thịnh của quốc gia.

Ở Việt Nam, trong số các chủ thể tham gia vào quy trình lập pháp, Chính phủ là chủ thể quan trọng nhất, có số lượng các dự án luật chiếm hơn 90% tổng số các dự án luật được đệ trình ra Quốc hội. Điều này phản ánh đúng thực chất năng lực và nhu cầu của cơ quan hành pháp trong hoạt động lập pháp. Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước và điều hành các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội, Chính phủ là nơi thường xuyên phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Từ đây, các giải pháp chính sách nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý được hình thành và trở lại phục vụ công tác quản lý và điều hành của Chính phủ ngày một tốt hơn, chất lượng của hệ thống pháp luật còn hạn chế, thể hiện ở tính thống nhất của hệ thống pháp luật chưa cao, số lượng văn bản quy phạm dưới luật được ban hành vẫn rất lớn, với nhiều hình thức văn bản, nhiều cấp độ hiệu lực khác nhau, nên hệ thống pháp luật rất phức tạp, cồng kềnh. Chính vì vậy, cần thiết phải tăng tính ổn định, tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật; tính khả thi của hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập. Đặc biệt, Chính phủ chưa phát huy được đầy đủ vai trò của mình trong công tác xây dựng và ban hành luật. Để khắc phục được những hạn chế này cơ quan ban hành các quyết định hành chính cần phải có các kỹ năng thẩm định các quyết định hành chính.

Thẩm định dự thảo quyết định là một trong các hoạt động kiểm tra trước quyết định hành chính. Kiểm tra trước là hoạt động tiến hành trước khi quyết định hành chính được ban hành nhằm ngăn ngừa, hạn chế khả năng ban hành quyết định khiếm khuyết. Các khiếm khuyết của quyết định có thể được tạo ra ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình xây dựng quyết định do các yếu tố khách quan hay chủ quan, cố ý hay vô ý. Việc phát hiện, kịp thời sửa chữa những sai sót đó ngay trong quá trình xây dựng có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao chất lượng quyết định.

Hoạt động thẩm định có thể phát hiện, ngăn ngừa các khiếm khuyết của dự thảo quyết định vì:

Một là, cơ quan thẩm định không phải là cơ quan soạn thảo hay cơ quan ban hành quyết định. Với vị trí như vậy, cơ quan thẩm định có độ độc lập tương đối trong việc đánh giá dự thảo, không dễ bằng lòng với nội dung đã được chuẩn bị vì đó không phải là cơ quan soạn thảo, không quá khắt khe vì đó không phải là cơ quan thông qua dự thảo. Từ đó, cơ quan thẩm định có thể đánh giá dự thảo tương đối khách quan.

Hai là, phạm vi thẩm định tương đối rộng đủ để cơ quan thẩm định có khả năng phát hiện ra hầu hết các khiếm khuyết ở các khía cạnh khác nhau của dự thảo quyết định cả dưới góc độ hợp pháp và hợp lý.

Ba là, cơ quan thẩm định là cơ quan có chức năng và kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực pháp luật (Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp), các cán bộ trực tiếp thẩm định quyết định là người có kiến thức chuyên môn pháp lý nên có khả năng phát hiện chính xác các khiếm khuyết.

Tuy nhiên, hoạt động thẩm định cũng có những hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng của ý kiến thẩm định và giá trị của ý kiến thẩm định trong quá trình hoàn thiện dự thảo quyết định theo hướng cơ quan thẩm định thường gặp khó khăn trong việc thẩm định tính khả thi của quyết định. Mặc dù thực tế xây dựng pháp luật trước đây và ngay cả các quy định của pháp luật hiện nay vẫn tập trung sự chú ý vào tính hợp pháp, nhưng thực chất sức sống của một văn bản pháp luật phụ thuộc chủ yếu vào tính hợp lý của nó, trong đó tính khả thi là một khía cạnh quan trọng. Cơ quan thẩm định khó thẩm định được tính khả thi vì không có đủ các thông tin cần thiết để đánh giá. Thông thường cơ quan này đánh giá tính khả thi của dự thảo trên cơ sở những thông tin do cơ quan chủ trì soạn thảo cung cấp. Điều đó khó tránh khỏi cách nhìn nhận, quan điểm của cơ quan soạn thảo. Bên cạnh đó, ý kiến thẩm định chỉ có giá trị tư vấn, tham khảo. Thực ra, không thể đòi hỏi ý kiến thẩm định có giá trị bắt buộc đối với cơ quan soạn thảo xuất phát từ vai trò của hoạt động thẩm định chỉ là một trong những hoạt động góp phần nâng cao chất lượng của quyết định, từ vị trí của cơ quan thẩm định trong quá trình xây dựng quyết định không phải là cơ quan cấp trên hay cơ quan có quyền quyết định đối với cơ quan soạn thảo.

Pháp luật quy định sau khi nhận được báo cáo thẩm định dự thảo, cơ quan soạn thảo phải nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo đồng thời giải trình bằng văn bản việc tiếp thu ý kiến thẩm định. Trong quy trình xây dựng nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, bản giải trình này được gửi trở lại cơ quan thẩm định (Bộ Tư pháp) cùng với dự thảo đã được chỉnh lý theo ý kiến thẩm định.

Tuy nhiên, pháp luật chưa có cơ chế gắn kết trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng quyết định với các chế tài áp dụng đối với các quyết định khiếm khuyết. Chẳng hạn, sau khi được ban hành quyết định bị kết luận là trái pháp luật, không phù hợp với thực tế... mà những khiếm khuyết đó được tạo ra trong quá trình xây dựng quyết định tại những khâu nhất định, bởi những chủ thể nhất định thì quyết định sẽ bị xử lý bằng những hình thức chế tài tương ứng như hủy bỏ, bãi bỏ, sửa đổi... Nhưng hoạt động này chỉ nhằm vào bản thân quyết định mà hầu như không ai nghĩ đến trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tạo ra khiếm khuyết đó. Tất nhiên, việc truy cứu trách nhiệm trong trường hợp như vậy không dễ dàng vì có thể nói các hoạt động khác nhau trong quá trình xây dựng quyết định có tác động qua lại lẫn nhau và vai trò quyết định cuối cùng đối với chất lượng của quyết định là cơ quan ban hành. Vấn đề đáng lưu ý ở đây là chưa khai thác được triệt để sự độc lập tương đối về vai trò của từng loại cơ quan trong quy trình xây dựng quyết định để cá biệt hoá trách nhiệm. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho cơ quan thẩm định không thực sự dồn tâm trí vào hoạt động thẩm định và cơ quan soạn thảo cũng không thực sự coi trọng ý kiến thẩm định. Từ đó dẫn đến thực tế là, giá trị của ý kiến thẩm định không cao, ảnh hưởng của hoạt động thẩm định đến chất lượng, quyết định hành chính chưa được như mong muốn.

Việc nâng cao kỹ năng thẩm định dự thảo quyết định hành chính cần thiết phải nghiên cứu đến vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp với tư cách là một chủ thể quan trọng. Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình lập pháp cũng như mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp bởi Chính phủ là cơ quan đề xuất chính sách, Chính phủ cần được chủ động cao trong việc đưa ra sáng kiến pháp luật đến thể hiện các giải pháp chính sách thành các chương điều cụ thể của dự án luật. Quốc hội có trách nhiệm phản biện các chính sách cơ quan hành pháp đưa ra để bảo vệ lợi ích cho người dân nhưng không nên can thiệp ngay từ đầu và tham gia vào quá trình xây dựng luật của cơ quan đề xuất.

Trong thực tế, Chính phủ chưa thể hiện được đầy đủ vai trò của mình khi tham gia vào quy trình lập pháp. Cơ quan hành pháp chưa thực sự quan tâm và đầu tư xây dựng chính sách để tạo lập hành lang pháp lý như là phương thức hữu hiệu, có ý nghĩa sống còn trong hoạt động quản lý nhà nước; thiếu cơ chế trách nhiệm của những người đứng đầu Chính phủ và các bộ ngành đối với chất lượng các dự án luật do Chính phủ xây dựng nên, đặc biệt là các kỹ năng thẩm định các quyết định hành chính cũng như các kỹ năng thẩm định các dự thảo chính sách pháp luật vẫn còn yếu.

Với vai trò đề xuất chính sách, Chính phủ cần nâng cao trách nhiệm trong việc bảo vệ các chính sách của mình trước Quốc hội. Sự tham gia của Chính phủ vào quy trình lập pháp không chỉ dừng lại ở việc tham gia vào một công đoạn cụ thể mà nó là một quá trình liên tục, không thể tách rời từ khi đưa ra sáng kiến pháp luật đến khi dự án luật được ban hành. Nếu như quá trình đưa ra sáng kiến pháp luật và soạn thảo dự án luật thuộc về trách nhiệm của Chính phủ thì giai đoạn trình dự án luật ra Quốc hội là một bước tiếp theo đòi hỏi Chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ chính sách do mình đưa ra trước cơ quan phản biện. Chính vì vậy, cần tăng cường năng lực và đổi mới mô hình cơ quan soạn thảo theo hướng thành lập một cơ quan soạn thảo duy nhất và hoạt động độc lập, gồm nhiều chuyên gia, nhà soạn thảo có năng lực, kinh nghiệm chuyên môn và được đặt tại Chính phủ. Quá trình soạn thảo dự án luật là sự kết hợp giữa các chuyên gia về chính sách của bộ, ngành để bảo đảm nội dung chính sách được dịch đúng, có khả năng thi hành trên thực tế mà việc thực thi chúng sẽ tạo ra sự thay đổi nếu mỗi thành viên tham gia xây dựng, thẩm định dự thảo chính sách đều có kỹ năng bởi Chính phủ và những người đứng đầu của Chính phủ và các bộ, ngành phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về chất lượng của các dự án luật của mình. Trách nhiệm đó được thể hiện không chỉ trong giai đoạn trình dự án luật ra trước Quốc hội mà nó còn cả trong quá trình chuẩn bị, sau khi được Quốc hội thông qua và khi dự luật đã chính thức vận hành trong cuộc sống. 

Đã xem 148 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành