Thứ ba, 18 Tháng 7 2017 08:20

Thực tiễn về hiện đại hóa giáo dục của Mỹ

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Mỹ là quốc gia đi đầu trong việc xây dựng mô hình đất nước hiện đại hóa giáo dục theo hướng nội sinh. Trải qua hơn 200 năm phát triển, Mỹ đã trở thành nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất thế giới. Trong sự phát triển chung của nền kinh tế Mỹ, giáo dục là nhân tố thúc đẩy quan trọng nhất và tích cực nhất. Cùng với sự phát triển vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là kinh tế, thương mại, giáo dục của Mỹ cũng là mô hình rất khoa học và thực tế. Phương pháp giáo dục của Mỹ chú trọng vào phát triển tư duy, tính sáng tạo và tôn trọng sự khác biệt của mỗi cá nhân. Ngày nay, du học Mỹ không chỉ là điểm đến của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực châu Á, điều này cũng rất thu hút sự quan tâm của các sinh viên đến từ khu vực châu Âu, nơi được coi là cái nôi của nền tri thức nhân loại.

1) Thực hiện phổ cập giáo dục, nâng cao trình độ dân trí

Từ khi bang Massachusetts, địa phương đầu tiên ở Mỹ thông qua Luật giáo dục nghĩa vụ năm 1852 đến bang Alabama, địa phương cuối cùng thông qua bộ luật này vào năm 1919, suốt hơn 60 năm, Mỹ đã cơ bản thực hiện xong việc phổ cập giáo dục nghĩa vụ với thời gian 6-8 năm, tạo nền tảng vững chắc về nguồn tài nguyên con người cho mục tiêu phát triển kinh tế. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ về cơ bản đã phổ cập xong giáo dục nghĩa vụ bậc trung học, hoàn thành sớm hơn các nước phát triển khác như: Anh, Pháp, Đức từ 30 đến 40 năm. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tỷ lệ học sinh nhập học bậc tiểu học và trung học ở Mỹ vẫn đứng trong top đầu thế giới. Đại đa số các bang ở Mỹ đều thực hiện chính sách cung cấp sách giáo khoa miễn phí không chỉ cho học sinh trong giai đoạn giáo dục nghĩa vụ, mà còn cho cả trẻ em bậc mầm non và học sinh trung học phổ thông.

Mỹ cũng là quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện được việc đại chúng hóa và phổ cập hóa giáo dục bậc đại học. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, Mỹ đã thành lập các trường cao đẳng cộng đồng với thời gian đào tạo hai năm. Năm 1920, Mỹ có khoảng hơn 200 trường cao đẳng cộng đồng, đến năm 1940, con số này đã lên đến hơn 400 trường. Sự ra đời và phát triển của mô hình trường cao đẳng cộng đồng ở Mỹ đã mở rộng cơ hội được đào tạo cho thanh niên Mỹ, giúp Mỹ có thể lần lượt sử dụng hai khoảng thời gian 30 năm (từ năm 1911 đến năm 1941 và từ năm 1941 đến năm 1970) để thực hiện được bước nhảy vọt về tỷ lệ học sinh theo học tại các trường cao đẳng, đại học từ mức 5% đến 15% rồi đến 50%, trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới đưa việc hiện đại hóa giáo dục bước vào giai đoạn đại chúng hóa và phổ cập hóa. Các trường cao đẳng cộng đồng hàng năm tuyển được một lượng lớn sinh viên, với học phí rất ưu đãi, thể hiện tính ưu việt của một xã hội an sinh, trường cao đẳng cộng đồng là điểm hút đối với người dân có mức thu nhập thấp hoặc trung bình. Mô hình nhà trường này thực hiện việc đào tạo nghề ngắn hạn, tuy nhiên mục tiêu đào tạo của trường cao đẳng cộng đồng là làm sao khi ra trường sinh viên có thể có được tay nghề đáp ứng được luôn yêu cầu của nhà tuyển dụng và có thể làm việc thực tế luôn sau khi tốt nghiệp 2 năm học tại trường Cao đẳng này.

Việc phân hóa giữa đào tạo nghề và đào tạo hàn lâm ở Mỹ là tương đối lớn. Ngay từ những năm cuối trung học cơ sở, tại trường học đã định hướng cho học sinh học lên tiếp trung học phổ thông với mục tiêu một là tiếp tục học nghề, hai là học lên đại học sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông.

Nền giáo dục bậc đại học của Mỹ bước vào giai đoạn đại chúng hóa sớm hơn 30-40 năm so với các nước phát triển khác như: Anh, Pháp, Đức...; bước vào giai đoạn phổ cập hóa sớm hơn khoảng 25 năm so với các nước này. Sau khi giáo dục đại học của Mỹ bước vào giai đoạn phổ cập, tỷ lệ sinh viên nhập học bậc này vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, đến năm 2002 đã đạt mức 71%, đứng thứ hai thế giới (sau Phần Lan, 85%), cao hơn 10% so với mức bình quân của các quốc gia có thu nhập cao.

Do thực hiện tốt việc phổ cập giáo dục nên trình độ văn hóa của người dân Mỹ cao hơn rõ rệt so với các nước phát triển khác. Năm 2002, trong tổng số dân Mỹ từ 25 tuổi trở lên, số dân có trình độ văn hóa đại học và cao đẳng chiếm 36%, số dân có trình độ trung học phổ thông chiếm 49%, số dân hoàn thành giáo dục nghĩa vụ chiếm 13%. Cùng năm đó, ba chỉ tiêu này của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế lần lượt là 23%, 44% và 33% .

2) Hình thành pháp lệnh giáo dục, thực hiện cải cách theo quy định của pháp luật

Mỹ là quốc gia hết sức coi trọng việc phát triển và cải cách giáo dục thông qua việc xây dựng khung luật pháp về giáo dục. Đặc điểm của việc xây dựng khung luật pháp về giáo dục ở Mỹ là phân công chức trách, quyền hạn và phối kết hợp giữa luật pháp liên bang và luật pháp của từng bang. Mỹ là đất nước do những di dân lập nên. Trước thời thực dân, mỗi vùng, mỗi bang lại do một khối di dân cát cứ, giữa các bang không có sự giao lưu, trao đổi mà đều tự xây dựng trường học, tự ban hành pháp lệnh giáo dục riêng, từ đó hình thành nên truyền thống các bang có hệ thống pháp lệnh giáo dục riêng. Luật giáo dục nghĩa vụ của Mỹ là do các bang lập ra, trách nhiệm và quyền lực hình thành và quản lý sự nghiệp giáo dục chủ yếu nằm trong tay chính quyền các bang. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với sự phát triển liên tục, không ngừng trong việc hình thành khung luật pháp về giáo dục của các bang, chính phủ liên bang cũng lần lượt ban hành một số pháp lệnh về giáo dục, có tính chất bổ trợ từng phần cho sự nghiệp giáo dục của các bang, hiệu lực pháp lý rất hạn chế.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, theo quy định của Hiến pháp Mỹ về việc Quốc hội có quyền ban hành quy tắc thuế phục vụ công tác bảo vệ an ninh quốc gia chung và phúc lợi chung, mức độ ảnh hưởng và liên quan đến việc xây dựng khung luật pháp giáo dục của liên bang ngày càng nhiều. Công tác lập pháp giáo dục thể hiện xu hướng tập trung quyền lực vào chính phủ trung ương. Năm 1944, khi Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, Quốc hội Mỹ thông qua Luật tái hòa nhập đối với quân nhân xuất ngũ và Luật việc làm cho quân nhận xuất ngũ. Nhờ việc ban hành và thực hiện hai luật này, Mỹ đã nỗ lực phát triển giáo dục đại học và giáo dục dạy nghề, không những tránh được tình trạng thất nghiệp trên quy mô lớn sau chiến tranh, mà còn bồi dưỡng được hàng chục nghìn nhân tài ở nhiều chuyên ngành khác nhau. Năm 1958, Quốc hội Mỹ thông qua Luật giáo dục quốc phòng, được giới giáo dục Mỹ gọi là văn kiện thời đại mới trong lịch sử giáo dục nước Mỹ, đã tạo ra tiền lệ chưa từng có trong lịch sử: chính phủ liên bang trực tiếp đầu tư và hỗ trợ toàn diện cho công tác giáo dục. Trước thời điểm đó, kinh phí hoạt động của các trường học công lập hoàn toàn do chính quyền các bang tự chi trả, chính phủ liên bang không trực tiếp hỗ trợ, ngoại trừ các trường dạy nghề. Việc thực thi bộ luật này đã có tác dụng thúc đẩy to lớn đến việc phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật và cải cách công tác dạy học ở Mỹ. Sau khi Luật giáo dục quốc phòng được thông qua năm 1958,- năm 1965 Quốc hội Mỹ đã thẩm duyệt và thông qua Luật giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, xác lập chế độ hỗ trợ kinh phí giáo dục cho con em các gia đình có hoàn cảnh khó khăn; năm 1968, thông qua Luật giáo dục dạy nghề, hình thành quỹ chuyên hỗ trợ và ủng hộ công việc đào tạo nghể; năm 1975 thông qua Luật giáo dục trẻ khuyết tật, góp phần thúc đẩy giáo dục đặc thù phát triển.

Sau thập niên 80 của thế kỷ XX, giáo dục ngày càng được xem là nhiệm vụ, công việc chung của chính phủ liên bang, chính quyền các bang và các địa phương ở Mỹ, công tác lập pháp cho giáo dục ngày càng có xu hướng kết hợp giữa phân quyền cho các địa phương và tập trung quyền lực về chính phủ liên bang. Công tác lập pháp cho giáo dục liên bang chủ yếu xoay quanh mục tiêu giáo dục mang tính toàn quốc, từ đó đã xác định những công việc trọng điểm, có tính mũi nhọn. Năm 1994, Quốc hội Mỹ đã thảo luận và thông qua chương trình mục tiêu đến năm 2000: Luật giáo dục Mỹ, theo đó liên bang có quyền kiến nghị lập pháp đối với việc cải cách giáo dục. Tháng 12-2001, Quốc hội Mỹ tiếp tục thông qua Dự luật cải cách giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, xây dựng được cơ chế phối kết hợp giữa chất lượng dạy học trong các trường công lập với mức tài chính hỗ trợ của chính phủ liên bang, khuyến khích các trường học nâng cao chất lượng giáo dục. Theo Dự luật cải cách giáo dục, chính phủ liên bang sẽ đứng ra tổ chức xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn giáo trình trên toàn nước Mỹ, tiêu chuẩn tự lựa chọn giáo trình giáo dục toàn quốc và tiêu chuẩn giáo trình giáo dục cấp bang có tính chất chỉ định bắt buộc.

Thể chế lập pháp giáo dục có sự phân công, kết hợp hài hòa giữa việc lập pháp của chính phủ liên bang với việc lập pháp của các bang ở Mỹ mặc dù quy định, quy phạm về giáo dục ở các bang không hoàn toàn giống nhau, nhưng đại đa số đều bao gồm các nội dung cơ bản sau: quy định những đối tượng người nào có thể và bắt buộc phải đi học; quy định tất cả trẻ trong độ tuổi 5-18 tuổi đều được hưởng chính sách giáo dục miễn phí tại các trường công lập; quy định phương thức thành lập, thay đổi và giải thể các trường công lập địa phương; quy định trình tự xây dựng và thay đổi cơ cấu trường học, bảo đảm việc thực hiện chế độ giáo dục cồng thống nhất và có hiệu quả; quy định nhiệm vụ, chức trách của giáo viên trường công lập và cán bộ quản lý giáo dục; quy định các môn bắt buộc phải dạy trong các trường công lập; quy định yêu cầu tối thiểu đối với học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông; quy định một số vấn đề về kế hoạch hoạt động của các trường tư thục.

3) Một nền giáo dục hiện đại với phương châm coi trọng hoạt động thực tế, khuyến khích đổi mới, sáng tạo

Nền giáo dục Mỹ có đặc trưng rõ rệt là thực tế, theo chủ nghĩa hiện thực. Môi trường lịch sử, văn hóa của Mỹ đã thể hiện quan niệm giá trị coi trọng hành động thực tế và hiệu quả. Trong giáo dục, quan niệm này được thể hiện qua việc các gia đình học sinh đểu mong muốn nhà trường trang bị cho con cái họ những kiến thức hữu dụng về sản xuất xã hội, đời sống xã hội và sự phát triển của cá nhân mỗi con người, chuẩn bị tốt cho con em họ bước vào cuộc sống. Ảnh hưởng từ nhu cầu xã hội, các trường học đều chú trọng đến việc kết hợp hài hòa giữa giáo dục và sản xuất xã hội, duy trì mối liên hệ tốt với đời sống xã hội, chú tâm đến việc giáo dục và truyền thụ những kiến thức và kỹ năng thực dụng.

Nền giáo dục Mỹ còn có đặc điểm tiêu biểu nữa là khuyến khích đổi mới, sáng tạo. Trên thực tế, có đến 50% các phát minh khoa học - kỹ thuật lớn và giải thưởng Nobel là của Mỹ. Những thành tựu này, ở một chừng mực nào đó, thuộc về công lao giáo dục của các trường học ở quốc gia này. Giáo dục Mỹ luôn nhấn mạnh việc coi sự phát triển của học sinh là đích đến. Trẻ em khi đang trong giai đoạn dậy thì ở Mỹ thường ít phải chịu những áp lực đến từ việc học tập, áp lực học tập của các em rất nhỏ, trường học chủ yếu áp dụng phương pháp giáo dục có tính gợi mở và định hướng, nhiệm vụ của giáo viên là khuyến khích, cổ vũ sự sáng tạo của học sinh, tập trung bồi dưỡng thói quen tư duy độc lập và năng lực tìm tòi, nghiên cứu cho học sinh. Trẻ em ở Mỹ từ bậc tiểu học đã bắt đầu tiếp xúc với những bài giảng, bài huấn luyện, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu độc lập, phải đến thư viện tra tài liệu, làm điều tra xã hội, viết luận văn và báo cáo điều tra theo những yêu cầu có tính quy phạm của nhà trường, lượng bài tập về nhà của học sinh rất ít. Bậc trung học ở Mỹ bắt đầu thực hiện chế độ học theo tín chỉ, những học sinh xuất sắc có thể học vượt lớp, vượt cấp hoặc vào đại học trước thời hạn. Ở bậc giáo dục đại học, trên cơ sở tự do lựa chọn sinh viên sẽ chọn chuyên ngành theo sở thích, năng lực và nhu cầu thị trường.

Ngoài ra, việc quy định độ tuổi đi học của Mỹ cũng rất mềm dẻo, dựa chủ yếu vào năng lực của từng cá nhân, không nhất thiết phải đúng 6 tuổi bắt đầu đi học lớp 1 hoặc đủ 18 tuổi mới được vào đại học. Tùy năng lực cá nhân mà độ tuổi đó có thể tăng hoặc giảm.

Ngoài ra, ngoài việc bồi dưỡng kiến thức nói chung, việc giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ rất được coi trọng ở Mỹ. Ngay từ bậc học mầm non đến cao đẳng, đại học, học sinh- sinh viên Mỹ đã được làm quen và rèn luyện thể thao hàng ngày, âm nhạc, vẽ, kịch nghệ là những môn học mang tính bắt buộc trong chương trình giáo dục của Mỹ.

Tính hiện đại trong giáo dục của Mỹ còn thể hiện trong phương pháp, cách thức dạy và học. Việc tôn trọng ý kiến cá nhân của học sinh được thực hiện nghiêm chỉnh ở Mỹ nhằm tạo điều kiện cho học sinh có tính sáng tạo và tư duy đa chiều trong suy nghĩ.

Những cách làm này càng dễ dàng bồi dưỡng và phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo của sinh viên.Tuy nhiên, nền giáo dục Mỹ vẫn còn tồn tại một số vấn đề như sự không thống nhất trong tiêu chuẩn giáo trình, nội dung giảng dạy thiếu tính hệ thống.

Bên cạnh những mặt tích cực, giáo dục Mỹ cũng còn có những hạn chế nhất định. Cùng với sự thay đổi của quy luật vận động, việc tự do hóa việc học tập của học sinh- sinh viên đôi khi cũng mang lại những nguy cơ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chủ nghĩa khủng bố dần len lỏi vào học đường, vấn nạn bạo lực học đường không chỉ xảy ra riêng ở nước ta, mà ở các nước phát triển cũng đều có và ở Mỹ nơi đất nước của tự do, tự do dùng vũ khí là điều đặc biệt nguy hại. Mặc dù vậy, cũng không thể phủ nhận sự tiên tiến, hiện đại và những thành tựu rực rỡ mà giáo dục Mỹ đã đạt được trong thời gian qua.

Đã xem 212 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành