In trang này
Chủ nhật, 20 Tháng 8 2017 10:23

Kinh nghiệm về hiện đại hóa giáo dục ở Mehico và Nhật Bản

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Mêhicô là quốc gia lớn nhất khu vực Trung Mỹ, dân số nước này tính đến tháng 7 năm 2017 là 129.860.578, GDP bình quân đầu người năm 2016 đạt gần 19.000 USD. Thực tiễn hiện đại hóa giáo dục của Mêhicô có tính điển hình, đại diện cao đối với đông đảo các nước đang phát triển, rất nhiều cách làm và kinh nghiệm trong tiến trình thực hiện hiện đại hóa giáo dục của Mêhicô xứng đáng để những nước đang phát triển ngưỡng mộ và học hỏi.

I. Hiện đại hóa giáo dục ở Mehico

1. Vai trò của Nhà nước trong phát triển giáo dục quốc dân ở Mehico

Mêhicô là đất nước có nền văn minh cổ đại ở khu vực Mỹ Latinh với lịch sử phát triển nền giáo dục lâu đời. Trước mấy thế kỷ khi người Tây Ban Nha xâm chiếm Mêhicô, người Aztec đã gây dựng được hệ thống giáo dục Aztec đồ sộ, tiến hành chiêu mộ tất cả các thanh niên nam đủ 15 tuổi để giáo dục tôn giáo, nghệ thuật, kỹ thuật thủ công, quân sự,... Năm 1524, Mêhicô trở thành vùng đất thuộc địa của Tây Ban Nha, nền giáo dục công cộng do người Aztec gây dựng trước đó bị xóa sổ, thay thế vào đó là hệ thống trường học tư thục nhằm mục đích đào tạo nên các chức sắc linh mục. Năm 1821, trước khi Mêhicô giành được độc lập, thành phố Mêxicô tổng cộng chỉ có 10 trường tiểu học với 1.500 học sinh, sự nghiệp giáo dục vô cùng lạc hậu.

Sau khi giành độc lập, Mêhicô vô cùng coi trọng việc phát triển sự nghiệp giáo dục. Năm 1857, nhà lãnh đạo Juarez cho sửa đổi hiến pháp, xác định do việc phân tách giữa giáo dục và tôn giáo, giáo dục do Nhà nước chỉ đạo và xây dựng. Năm 1868, Mêhicô ban hành pháp lệnh, quy định giáo dục sơ đẳng là giáo dục nghĩa vụ. Hiến pháp Hợp chúng quốc Mêhicô ban hành năm 1917 quy định: giáo dục sơ đẳng là giai đoạn giáo dục nghĩa vụ miễn phí. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sự nghiệp giáo dục của Mêhicô phát triển mạnh mẽ. Đến thập niên 60 của thế kỷ XX, Mêhicô đã cơ bản phổ cập và thực hiện giáo dục nghĩa vụ miễn phí. Đến năm 1977, giai đoạn giáo dục nghĩa vụ miễn phí được mở rộng đến bậc trung học cơ sở, từng bước thực hiện phổ cập giáo dục miễn phí hệ chín năm. Năm 1983, Mêhicô lại đề ra nhiệm vụ thực hiện giáo dục miễn phí hệ 10 năm (bao gồm một năm trước khi học sinh đến trường). Mêhicô thực hiện chế độ giáo dục miễn phí, trường học được chia thành ba loại: trường quốc lập, trường do các bang thành lập và trường dân lập. Trường quốc lập và trường do các bang lập đều thực hiện miễn phí đối với học sinh từ tiểu học đến đại học, giáo viên là công chức nhà nước. Theo thống kê, năm 2002, tỷ lệ học sinh nhập học bậc tiểu học của Mêhicô đạt 110%, tỷ lệ học sinh theo học trung học đạt 73%, tỷ lệ sinh viên theo học đại học đạt 20% , mức độ phổ cập giáo dục đứng top đầu trong số các nước đang phát triển.

Sự phát triển vượt bậc, nhanh chóng của nền giáo dục Mêhicô bắt nguồn từ thái độ và chủ trương coi trọng giáo dục của Chính phủ Mêhicô ở các thời kỳ. “Quy hoạch phát triển giáo dục giai đoạn 1995-2000” ban hành tháng 1-1996 đã thể hiện rất rõ sự hiểu biết và nhận thức của Chính phủ Mêhicô đối với vị trí chiến lược của giáo dục. Văn kiện này nêu rõ, hơn lúc nào hết, Mêhicô càng kiên định với niềm tin rằng, sự giàu mạnh, tài sản quý giá nhất của quốc gia chính là trình độ, tố chất của người dân nước đó; hành động của con người sẽ thay đổi tự nhiên, khiến nó phải sản sinh ra những điều kiện sinh tồn tốt hơn cho con người; hành động của con người hình thành và thúc đẩy tất cả các cơ quan, đơn vị, để mỗi cá nhân và toàn xã hội có thể vượt qua khó khăn để chung sống hòa bình. Tóm lại, chính năng lực của con người quyết định sự giàu có của đất nước. Tổng thống nhiệm kỳ đầu tiên trong thế kỷ XXI của Mêhicô, ông Vicente Fox, sau khi nhậm chức đã nhấn mạnh nhiều lần trong nhiều bài phát biểu của mình ở nhiều sự kiện khác nhau, rằng giáo dục là cây cột trụ của phát triển, con đường tiến bộ của đất nước và xã hội bắt đầu từ giáo dục; không có giáo dục sẽ không thể nói đến phát triển kinh tế, không thể có công bằng xã hội, không thể đạt được mục tiêu mọi người cùng được hưởng cơ hội và cuộc sống tốt đẹp hơn, cũng không thể để cập vấn đề tiến bộ, hiện đại và phồn thịnh; trong thế kỷ XXI, Mêhicô muốn giành được thành công, muốn giành thắng lợi trong cuộc chiến chống đói nghèo, muốn thực hiện công bằng xã hội, muốn để mọi người đểu có thành công, thì đáp án chính xác nhất, không nghi ngờ gì nữa, chính là giáo dục. Theo thống kê, kinh phí dành cho giáo dục công của Mêhicô năm 2002 chiếm tới 4,4% tổng sản phẩm quốc nội, giữ vững vị trí top đầu trong các nước đang phát triển.

2. Quan điểm phát triển giáo dục song hành cùng phát triển kinh tế, xã hội, an sinh ở Mehico

Trong tiến trình hiện đại hóa giáo dục, Mêhicô nhấn mạnh xuất phát điểm là tình hình đất nước của mình, nỗ lực học tập và học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển để tìm ra và đi trên con đường phát triển của riêng mình. Mêhicô là nước cận kề với Mỹ, nhưng không vì thế mà nước này rập khuôn một cách mù quáng cách làm của Mỹ mà không xem xét đến tình hình cụ thể của nước mình. Điều này được thể hiện một cách khá đầy đủ và rõ ràng trong “Quy hoạch phát triển giáo dục giai đoạn 1995-2000” ban hành tháng 1-1996 của Mêhicô. Quy hoạch này nhấn mạnh, cần phải đẩy mạnh liên bang hóa giáo dục, chứ không làm theo cách làm của Mỹ, giao trách nhiệm xây dựng nền giáo dục và quyền lực quản lý giáo dục cho chính quyền địa phương. Quy hoạch này cho rằng, liên bang hóa giáo dục sẽ có lợi cho việc cải thiện dịch vụ giáo dục, vừa có thể thực hiện các mô hình giáo dục theo đặc điểm của từng bang, từng khu vực, vừa không ảnh hưởng đến quy hoạch giáo dục thống nhất của cả nước. Quy hoạch cũng nhấn mạnh việc cần thiết phải thực hiện chuyên môn hóa trong đào tạo giáo viên, chứ không như Mỹ, không xây dựng cơ cấu đào tạo giáo viên chuyên môn hóa. Mêhicô đã xây dựng được hệ thống đào tạo giáo viên tương đối hoàn chỉnh bao gồm cả hệ thống các trường sư phạm ở nông thôn và cơ quan đào tạo giáo viên liên bang. Tiếp đó, Quy hoạch đề cập việc nội địa hóa chế độ giáo dục, duy trì và phát huy bản sắc dân tộc trong thể chế giáo dục, Chính phủ Mêhicô đã có những cam kết đặc biệt đối với người Ấn Độ và những người thuộc dân tộc khác, cung cấp cho họ hệ thống giáo dục song ngữ và song văn hóa.

Căn cứ theo từng giai đoạn phát triển của mình, Mêhicô kiên trì thực hiện mô hình trường học đa hình thức. Đại học quốc lập Mêhicô nổi tiếng là điển hình của mô hình này, có những đặc điểm trường học rất đặc sắc: một là “đại” – lớn, hiện nay số sinh viên theo học tại trường Đại học Mêhicô đạt hơn 270.000 người, là một trong những trường đại học tổng hợp lớn nhất thế giới; hai là toàn bộ sinh viên học thoát ly trường lớp, đại bộ phận sinh viên đều sinh sống tại gia đình, một phần nhỏ sinh sống trong nhà bạn bè, người thân hooặc thuê phòng gần trường học; ba là phương thức học tập tự do, học sinh có thể đến lớp nghe giảng, cũng có thể tự học ở nhà. Trường học ký hợp đồng với một đài truyền hình nào đó để có một kênh phát sóng bài giảng của giáo viên 24/24 giờ, học sinh có thể tự học ở nhà qua kênh truyền hình theo nhu cầu.

Có thể thấy rằng, mặc dù là quốc gia đông dân, sự phân bổ dân cư không đồng đều và phân cấp giữa các giai tầng trong xã hội là tương đối lớn, nhưng Mehico rất coi trọng sự nghiệp giáo dục, xác định giáo dục là ưu tiên hàng đầu trong việc phát triển kinh tế- xã hội. Việc phát triển, hiện đại hóa giáo dục là trách nhiệm của nhà nước liên bang chứ không phải của riêng lẻ từng tiểu bang.

II. Hiện đại hóa giáo dục ở Nhật bản, kinh nghiệm và thực tiễn

Là một nước phát triển tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia thực hiện công cuộc hiện đại hóa sớm nhất ở châu Á. Với đặc điểm diện tích đất nước nhỏ hẹp, tài nguyên khan hiếm, Nhật Bản đã sớm ý thức được việc cần phải chú trọng khai thác và phát triển nguồn tài nguyên con người. Con đường đi của Nhật Bản là lấy sự phát triển của giáo dục để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.

1. Quan niệm kiên trì coi giáo dục là gốc rễ để xây dựng đất nước

Thời kỳ Minh trị Duy tân, học theo mô hình của các nước phương Tây, Nhật Bản đã coi “phát triển công nghiệp và tích lũy tư bản; xây dựng đất nước giàu có, quân đội hùng mạnh; khai hóa văn minh” là quốc sách căn bản hàng đầu, tập trung hình thành nên chế độ giáo dục hiện đại. Năm 1872, Nhật Bản ban hành “Chế độ giáo dục”, đây là điểm mốc đánh dấu sự mở đầu cho nền giáo dục hiện đại của Nhật Bản. “Chế độ giáo dục” bên cạnh việc nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, cũng đã chỉ rõ yêu cầu phổ cập “không có gia đình nào thất học, không có người nào thất học”. Để thực hiện mục tiêu phổ cập mà “Chế độ giáo dục” đề ra, Nhật Bản đã cho xây dựng các trường tiểu học trên toàn quốc và hình thành chế độ bồi dưỡng, đào tạo giáo viên. Sau thế kỷ XIX, Nhật Bản về cơ bản đã phổ cập xong giáo dục nghĩa vụ hệ bốn năm, đến năm 1907, Nhật Bản đã nâng hạn mức thời gian giáo dục nghĩa vụ từ bốn năm lên sáu năm. Năm 1908, Nhật Bản cơ bản hoàn thành giáo dục phổ cập với thời hạn sáu năm. Khoảng năm 1930, sự nghiệp giáo dục các cấp, các loại của Nhật Bản đã có bước phát triển dài, trình độ phát triển về giáo dục của Nhật Bản không kém gì so với các nước Âu - Mỹ. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, do là nước bại trận trong chiến tranh, Nhật Bản lâm vào tình trạng kinh tế kiệt quệ, các ngành, các lĩnh vực xơ xác, tiêu điều, lạc hậu, ngân khố quốc gia hầu như trống rỗng. Trước tình cảnh khó khăn ấy, Nhật Bản vẫn quyết tâm thực hiện cho được chính sách giáo dục nghĩa vụ với thời gian chín năm, theo đó, năm 1947, Nhật Bản đã luật hóa chính sách giáo dục nghĩa vụ miễn phí chín năm. Đến thập niên 70 của thế kỷ XX, Nhật Bản bắt đầu thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông, năm 1980, tỷ lệ học sinh nhập học bậc phổ thông trung học của Nhật Bản đã vượt qua mức của một số nước phát triển như Anh, Đức, Pháp..., đạt trên 90%. Năm 2002, cơ cấu trình độ văn hóa của dân số từ 25 tuổi trở lên của Nhật Bản là: trình độ đại học chiếm 36%, trình độ trung học phổ thông chiếm 47%, trình độ giáo dục nghĩa vụ chiếm 16% cao hơn rất nhiều so với mức trung bình của các nước và khu vực có thu nhập cao trên thế giới. Chính sách phổ cập giáo dục được thực hiện mạnh mẽ và rộng rãi đã bồi dưỡng, đào tạo cho Nhật Bản một lượng lớn lực lượng lao động tay nghề cao và nhân tài chuyên môn chất lượng tốt, tạo nền tảng về con người và kỹ thuật vững chắc cho sự phát triển của đất nước. Sức phát triển của đất nước từ thời kỳ Minh trị Duy tân, đặc biệt là sự trỗi dậy mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay có được là do Nhật Bản đã sớm xây dựng và kiên trì trước sau như một thực hiện quốc sách cơ bản “giáo dục là gốc rễ để xây dựng đất nước”.

2. Định hướng về phân cấp quản lý giáo dục của Nhật bản

Thời kỳ Minh trị Duy tân, Nhật Bản đã đề ra quốc sách dùng giáo dục để xây dựng đất nước, nhưng lại chỉ xem giáo dục là hoạt động để cá nhân thu lợi ích, thực hiện nguyên tắc người được giáo dục phải gánh mọi chi phí giáo dục, tức là ai đọc sách người ấy trả tiền, học phí của học sinh bậc tiểu học cũng thực hiện theo nguyên tắc phụ huynh học sinh chịu trách nhiệm chi trả, việc dạy và học được duy trì theo mức học phí, vì thế toàn ngành giáo dục của Nhật Bản phát triển rất chậm chạp. Năm 1880, Nhật Bản tiến hành sửa đổi pháp lệnh giáo dục, sửa nguyên tắc người được giáo dục chịu chi phí giáo dục thành người tổ chức giáo dục chịu trách nhiệm chi trả chi phí giáo dục. Theo nguyên tắc này, những trường học do trung ương và địa phương mở ra, kinh phí hoạt động chủ yếu của họ do chính phủ và chính quyền địa phương cấp. Theo pháp lệnh năm 1880, giáo dục tiểu học do chính quyền xã, phường, thị trấn tổ chức và quản lý, kinh phí hoạt động trên nguyên tắc sẽ do chính quyền xã, phường, thị trấn ở địa phương cấp. Trong khoảng thời gian từ năm 1881 đến năm 1900, kinh phí của giáo dục tiểu học ban đầu chủ yếu do chính quyền xã, phường, thị trấn sở tại đảm trách, chiếm tỷ lệ rất lớn, sau đó dần dần bổ sung thêm trách nhiệm cấp kinh phí của chính quyền huyện sỏ tại, sau cùng lại thực thi chính sách chính phủ sẽ chịu trách nhiệm cấp một phần kinh phí nhất định. Bắt đầu từ năm 1900, Nhật Bản thực hiện chế độ quốc khố hỗ trợ, tăng lương theo năm cho giáo viên tiểu học. Bắt đầu từ năm 1918, Nhật Bản lại thực hiện Luật quốc khố chi trả chi phí giáo dục nghĩa vụ. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản cơ bản đã hình thành chế độ phân cấp trách nhiệm về kinh phí giáo dục nghĩa vụ, đã bảo đảm một cách hữu hiệu việc phổ cập và nâng cao chất lượng giáo dục nghĩa vụ. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản đã tiến thêm một bước trong việc hoàn thiện chế độ phân cấp trách nhiệm chi trả chi phí giáo dục, hình thành cơ chế kinh phí giáo dục gia tăng ổn định. Mức chi cho giáo dục toàn xã hội ở Nhật Bản dao động xung quanh mức 5% trong tổng sản phẩm quốc dân, kinh phí giáo dục công bình quân đầu người của Nhật Bản khá cao, năm 2002 đã ở mức hơn 1.200 USD. Chi phí xây dựng trường học bậc tiểu học và trung học ở Nhật Bản được phân chia theo cấp bậc từ chính phủ đến chính quyền tỉnh, thành phố, tiếp đến là chính quyền huyện, khu và phường, xã, do đó, cho dù ở những khu vực, địa phương xa xôi, lạc hậu, điều kiện giáo dục, trang thiết bị dạy và học của các trường học đều đạt đến mức độ quy phạm hóa. Đầu tư ổn định cho giáo dục đã khiến nền giáo dục Nhật Bản phát triển khá cân bằng về tổng thể, giai đoạn giáo dục nghĩa vụ thường không tồn tại hiện tượng “chọn trường”.

3. Định hướng tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm giáo dục của nước ngoài

Trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục hiện đại, Nhật Bản đã rất tích cực và rất giỏi trong việc tiếp thu những kinh nghiệm hay của các nước khác trên thế giới. “Chế độ giáo dục” ban hành năm 1872 của Nhật Bản được hình thành trên cơ sở tham khảo chế độ giáo dục của nhiều nước phương Tây như: Pháp, Đức, Hà Lan, Anh, Mỹ, Nga..., trong đó Nhật Bản chủ yếu tiếp thu được nhiều đặc điểm của chế độ giáo dục của Pháp, có tính thống nhất và tính cưỡng chế tương đối mạnh. “Chế độ giáo dục” Nhật Bản về tư tưởng còn tiếp thu một số giá trị quan về giáo dục của phương Tây, trong đó nhấn mạnh việc sáng tạo, đổi mới trong hệ thống giáo dục cần phải coi tư tưởng công bằng trong cơ hội giáo dục là cơ sở, mỗi công dân đều có cơ hội được giáo dục như nhau; nhấn mạnh mục đích của giáo dục trường học là phải học tập và ứng dụng tốt những tri thức khoa học để nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đối với những mô hình giáo dục nước ngoài, Nhật Bản lựa chọn phương châm tiếp thu có chọn lọc. Về thể chế quản lý giáo dục, Nhật Bản học tập chế độ tập trung quyền lực về chính phủ trung ương của Pháp chứ không hoàn toàn rập khuôn theo chế độ phân chia quyền lực về các địa phương như ở Mỹ; về phương thức giáo dục bậc đại học, Nhật Bản chủ yếu áp dụng theo mô hình kết hợp giữa giáo dục, khoa học và nghiên cứu của Đại học Berlin, Đức.

Chúng ta có thể nhìn thấy sự phản chiếu nhiều hình ảnh của ngành giáo dục của rất nhiều quốc gia từ nền giáo dục của Nhật Bản, nhưng cũng rất khó để có thể kết luận rằng đó là bản sao hay thế hệ lai đầu tiên của mô hình giáo dục nước nào vì chiếm phần lớn trong mô hình giáo dục ấy vẫn là nền giáo dục mang đặc trưng cơ bản của văn hóa Nhật Bản, là tổng hòa một cách hài hòa nhiều dạng mô hình giáo dục.

Như vậy, có thể thấy rằng, xuyên suốt từ các nước Châu Mỹ đến Châu Á, từ nước đang phát triển đến nước phát triển mạnh về kinh tế, vấn đề giáo dục đặc biệt hiện đại hóa giáo dục là vấn đề luôn được quan tâm và thực hiện một cách sát sao. Xác định con đường giáo dục là con đường rộng mở, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế và thu hút nguồn lực đầu tư, các nước trên thế giới liên tục đưa ra các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện áp dụng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật áp dụng cho giáo dục một mặt nâng cao năng lực của nguồn nhân lực mặt khác thu hút du học sinh thế giới đến du học, tạo tiền đề cho việc thu hút về tài chính và nhân lực.

Đã xem 454 lần