In trang này
Thứ ba, 22 Tháng 8 2017 04:27

Trách nhiệm xã hội hóa giáo dục

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

1. Sự tham gia của các tổ chức chính trị xã đoàn thể và cá nhân trong phát triển sự nghiệp giáo dục ngày càng tích cực

Thực hiện xã hội hóa giáo dục đã huy động được toàn bộ lực lượng xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục. Các tổ chức chính trị - xã hội như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Hội cựu giáo chức, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học... có nhiều hình thức và biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục:

Thường xuyên tổ chức các lớp bổ túc văn hóa nhằm thực hiện xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và mở các lớp đào tạo nghề nhằm nâng cao trình độ kỹ năng tay nghề cho cán bộ các cấp, hội viên và người lao động. 

Để nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng tay nghề cho người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, cụ thể như: Nghị quyết số 46/NQ- BCH, ngày 6-1-2005 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa IX) về “Công đoàn với nhiệm vụ nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp của công nhân, viên chức, lao động đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nghị quyết liên tịch số 02, ngày 27-7-2005 giữa Tổng Liên đoàn Lao động với Bộ Giáo dục và Đào tạo về “phối hợp nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp trong công nhân lao động giai đoạn 2005 - 2010”, Chương trình phối hợp số 249, ngày 12-2-2007 giữa Tổng Liên đoàn lao động với Bộ Giáo dục và Đào tạo để nâng cao trình độ học vấn và tay nghề cho công nhân lao động ở khu vực ngoài quốc doanh và vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra liên đoàn lao động tỉnh, thành phố thường xuyên phối hợp với trung tâm giáo dục thường xuyên để mở lớp bổ túc văn hóa cho công nhân tối học, ngay cả một số công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng tạo điều kiện cho công nhân đi học như: hưởng nguyên lương, cấp sách vở và không phải làm bù trong thời gian đi học.

Hội Nông dân Việt Nam cũng đã kết hợp với một số ngành tổ chức mở lớp học: xóa mù chữ cho nông dân, lớp chuyên đề về khoa học kỹ thuật và dạy nghề, lớp tập huấn để nâng cao kiến thức về khoa học kỹ thuật cho cán bộ các cấp hội và làm tốt công tác vận động nông dân tham gia học tập. Kết quả, hàng năm có khoảng 4.000.000 người học chuyên đề khoa học kỹ thuật.

Ngoài ra, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng tích cực phối hợp với các bộ, ngành tổ chức mở lớp xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, mở lớp chuyên đề về giới, sức khỏe sinh sản, dinh dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của phụ nữ. Đặc biệt Trung ương Hội còn có Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương để làm nhiệm vụ bồi dưỡng và đào tạo cán bộ cho phong trào phụ nữ.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ đoàn và thanh niên thông qua những hình thức tổ chức: Học viện thanh, thiếu niên, Trung tâm giới thiệu và giải quyết việc làm, Trung tâm hoạt động thanh, thiếu nhi, Lớp học tình thương, Lớp tập huấn, Lớp chuyển giao công, nghệ, ứng dụng khoa học, kỹ thuật, các lớp xóa mù chữ. Đoàn Thanh niên đã góp phần huy động thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục nước ta bằng những hành động thiết thực như tổ chức vui chơi, dạy nhạc, vẽ, một số môn kỹ thuật, dạy ngoại ngữ, tin học hoặc nghiệp vụ cho thanh niên; nâng cao trình độ kỹ thuật cho những thanh niên công nhân, các cán bộ trẻ tuổi; xóa mù chữ cho đối tượng lao động nghèo.

Các doanh nghiệp cũng đã có sự chia sẻ việc đào tạo3 kỹ thuật với ngành giáo dục và ngành lao động. Trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp lổn đã tổ chức các hình thức học tập như: trường dạy nghề; mở các lớp ôn lý thuyết, luyện tay nghề, thi thợ giỏi; kèm cặp thợ trẻ; liên kết đào tạo; mở các lớp tập huấn ngắn ngày; các lớp dạy văn hóa cho công nhân; hội thi thao diễn kỹ thuật; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Những hoạt động này đã góp phần nâng cao tay nghề, nâng cao trình độ cho cán bộ, nhân viên và công nhân, đạt hiệu quả, năng suất cao trong sản xuất.

Tham gia biên soạn và đóng góp ý kiến xây dựng giáo trình, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật như Luật giáo dục, Luật dạy nghề, phát động nhiều phong trào, cuộc vận động lớn nhằm huy động sự tham gia của toàn xã hội vào việc phát triển giáo dục, đào tạo.

Ngoài ra, các tổ chức còn thành lập các quỹ khuyến học, vận động các tổ chức, cá nhân góp quỹ bằng tiền; phát động phong trào hiến đất xây dựng trường, lớp một cách hiệu quả. Trong công tác này, phải đặc biệt kể đến vai trò của Hội khuyến học. Hội đã phối hợp với các lực lượng xã hội để xây dựng phong trào học tập, xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, tổ dân phố khuyến học, nhà trường khuyến học, nhà chùa khuyến học, xứ khuyến học.

Với việc hỗ trợ và khuyến khích dạy và học trong nhà trường thông qua các loại quỹ khuyến học, khuyến tài, hơn 10.000.000 học sinh, sinh viên nghèo được hô trợ kịp thòi về học bổng, hàng vạn thanh niên học giỏi được nhận giải thưởng, hàng vạn thầy, cô giáo có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp. Hội Khuyến học Việt Nam đã trở thành một nhân tố động lực trong sự nghiệp xây dựng xã hội học tập, hội viên và các tổ chức cơ sở của Hội hoạt động trên khắp các vùng, miền. Đó là lực lượng quan trọng làm nòng cốt cho các cuộc vận động nhân dân tham gia học, các phong trào khuyến học, khuyến tài. Hiện nay, mạng lưới hội khuyến học đang phát triển mạnh, có vai trò cùng xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, chăm sóc đội ngũ giáo viên, học sinh, sinh viên... và cùng đầu tư cho giáo dục với tiêu chí giáo dục là sự nghiệp của toàn dân.

2. Công tác quản lý đối với các cơ sở giáo dục còn nhiều lúng túng, kém hiệu quả ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục – đào tạo.

Quản lý nhà nước về giáo dục có thể được coi là khâu then chốt nhằm bảo đảm thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục – đào tạo.Vì thông qua quản lý nhà nước về giáo dục, việc thực hiện các chủ trương, chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, việc thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục... mới được triển khai, thực hiện có hiệu quả. Để xã hội hóa giáo dục đạt hiệu quả góp phần phát triển nền giáo dục Việt Nam, hơn lúc nào hết vai trò quản lý giáo dục của Nhà nước cần được tăng cường và phát huy Trong những năm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, công tác quản lý nhà nước về giáo dục đã có những đổi mới nhất định phù hợp với sự phát triển giáo dục - đào tạo, làm cho công tác xã hội hóa giáo dục bước,) đầu đạt được những hiệu quả nhất định góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục ở nước ta. Song bên cạnh đó, so với yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội và nhu cầu; học tập của người dân, thì hoạt động quản lý giáo dục vẫn còn nhiều bất cập cả trong định hướng phát triển, quy hoạch và chỉ đạo thực hiện. Việc triển khai thực hiện còn chậm và nhiều lúng túng. Quản lý nhà nước đôi khi vừa gò bó, vừa buông lỏng; cơ chế, chính sách chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các lực lượng trong xã hội chưa được tổ chức và phối hợp tốt để chủ động, tích cực tham gia vào quá trình xã hội hóa giáo dục.

Việc quản lý công tác xã hội hóa giáo dục - đào tạo chậm đổi mới, về cơ bản vẫn còn chịu ảnh hưỏng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Một số quan điểm, chủ trương, chính sách về xã hội hóa giáo dục chưa theo kịp với tình hình mới của đất nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Bởi thế, cơ chế “xin - cho” trong việc cấp phép thành lập các cơ sở giáo dục ngoài công lập đã tạo điều kiện phát sinh nhiều tiêu cực. Trong vấn đề này, có ý kiến cho rằng: “Sự mập mờ về thị trường giáo dục đại học chưa được thừa nhận, từ sự quản lý nhà nưốc bất cập sử dụng rất nhiều điều kiện hành chính “phải xin” và “được cho” để đối phó với vấn đề kinh tế mở ngõ cho tiêu cực chui vào trong hoạt động giáo dục”.

Vì thế, có những trường, cơ sở giáo dục ngoài công lập không đủ điều kiện như thiếu cơ sở vật chất (phòng học, trang thiết bị đồ dùng dạy học...), không đủ tiêu chuẩn mở trường vẫn được cấp phép hoạt động. Thực trạng này đã được Chính phủ nêu tại Báo cáo số 34 gửi ủy ban Thường vụ Quốc hội tháng 4-2010: vẫn còn 20% trường đại học và cao đẳng thành lập mới chưa thực hiện việc xây dựng trường tại địa điểm đăng ký thành lập trường, chưa thực hiện đầy đủ các cam kết như trong đề án khả thi thành lập trường, còn phải đi thuê mướn cơ sở để thực hiện việc tổ chức hoạt động và đào tạo. Bên cạnh đó, một số cơ sở giáo dục có khuynh hướng chạy theo lợi nhuận, chưa thực sự hướng tới việc cung cấp dịch vụ giáo dục có chất lượng cho người thực nên mặc dù cơ sở vật chất thiếu thốn, giáo viên vừa yếu, vừa thiếu nhưng tuyển sinh vượt chỉ tiêu cho phép. Thậm chí, một số đơn vị không có chức năng đào tạo, không được cấp phép liên kết đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng vẫn thực hiện liên kết đào tạo.

Cũng do sự buông lỏng trong quản lý, đã dẫn đến hiện tượng lợi dụng chủ trương xã hội hóa giáo dục để lạm thu ở các cơ sở giáo dục gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội chưa được giải quyết triệt để. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phần chi tiêu gia đình cho một người học, trước hết là học phí (chiếm 27%), tiếp đó là học thêm (chiếm 20%), đóng góp xây dựng trường, lớp (chiếm 11%), sách giáo khoa (chiếm 11%), dụng cụ học tập (chiếm 9%), các khoản chi khác (chiếm 21%). Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân, đặc biệt là những hộ nghèo không có điều kiện cho con đến trường hoặc phải vay tiền để cho con tiếp tục học.

Việc phân cấp quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương, cơ sở giáo dục còn chưa thật đầy đủ để tạo quyền tự chủ, năng động cho địa phương và cơ sở giáo dục dẫn đến tình trạng lẫn lộn các chức năng quản lý về thể chế, chính sách với các chức năng tác nghiệp của nhà trường; các cơ quan hành chính can thiệp sầu vào những hoạt động mang tính tác nghiệp của các nhà trường, chưa chú ý đúng mức chức năng quản lý đích thực về thể chế, chính sách. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các ngành có liên quan để triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước ở các địa phương còn chậm và chưa đồng bộ. Các lực lượng xã hội trong từng cộng đồng chưa được tổ chức và phối hợp tốt để đẩy lùi các tệ nạn xã hội ảnh hưởng tới cộng đồng và nhà trường. Vì vậy, việc triển khai xã hội hóa giáo dục chưa được đồng đều giữa các địa phương, các vùng, miền. Việc thành lập các trường, đặc biệt là các trường, ngoài công lập còn mang tính tự phát, thiếu điều tra khảo sát kỹ càng, thiếu chuẩn bị về các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy và học, dẫn đến một số trường không thể tuyển sinh và có nguy cơ tan rã. Một điều đáng đề cập ở đây là dường như các doanh nghiệp, các nhà tuyển dụng vẫn đứng ngoài sự nghiệp giáo dục. Thật ít có doanh nghiệp bắt tay, mặn mà với các trường đại học, cao đẳng; rất ít đặt hàng yêu cầu chất lượng đầu ra và đóng góp kinh phí hỗ trợ các sinh viên... Thực tế cho thấy không ít các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ cần có chính sách trả lương cao là có thể chọn lọc người tài.

Công tác kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với phát văn bằng, chứng chỉ hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm, có biểu hiện thiếu tích cực, làm qua loa, chiếu lệ, chưa nhất quán và thiếu kiên quyết xử lý những sai phạm; việc triển khai chủ trương kiểm tra chưa đồng đều, rộng khắp; công tác quản lý hồ sơ ở một số địa phương và cơ sở giáo dục còn yếu kém. Vì vậy, thời gian qua việc sử dụng các loại văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp (văn bằng, chứng chỉ giả; văn bằng, chứng chỉ thật nhưng bị tẩy xóa nội dung; văn bằng, chứng chỉ 1 thật nhưng cấp cho người học không tuân theo đúng các quy trình đào tạo, không đúng thẩm quyền...) diễn ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng. Điều đáng lo ngại hơn là hiện tượng “học giả, bằng thật”, tức là không chấp hành nghiêm túc các quy định của quy chế đào tạo  (từ tuyển sinh đến quy chế học tập, quy trình đánh giá thi và tốt nghiệp...) dẫn đến người học được cấp bằng, chứng chỉ không đúng với trình độ, chất lượng giáo dục đào tạo thấp nhưng ít được phát hiện và xử lý. Hiện tượng này có ở các hệ đào tạo và phổ biến ở hệ không chính quy, các hình thức đào tạo tại chức, từ xa.

Bởi vậy, tăng cường và đổi mới phương thức quản lý giáo dục nói chung và công tác xã hội hóa nói riêng một cách toàn diện là việc làm cần thiết góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 

Đã xem 252 lần